Tải Về File PDF Xin Nhấn Tại Đây

Tải Về Power Point Nhấn Tại Đây

Sự tương đồng giữa lĩnh vực
Công Nghệ Thông Tin Và Phật Giáo

so

Những điều chúng tôi nêu ra dưới đây chưa có được một sự kiểm chứng nào cũng như chưa có được một sự học hỏi bài bản nào bên giáo lý của Đức Phật. Nhưng vì có một ít vốn kiến thức bên Vật Lý và Tin Học, chúng tôi cảm thấy có một cái gì đó có sự tương đồng khi nghe HT Tịnh Không giảng về một số kiến thức về Duy Thức Học và Thập Nhị Nhân Duyên bên Phật Giáo. Chúng tôi cảm nhận những thuật ngữ khó hiểu bên Phật Giáo ai biết đâu lại có thể dùng những kiến thức hiện đại ngày nay có thể giúp chúng ta hiểu được một cách chính xác hơn về giáo lý cách đây hơn 3000 năm. Khi hiểu được đúng đắn có được chánh tư duy rồi chúng ta sẽ dễ dàng điều phục thân, khẩu, ý của mình hơn giúp cho tâm linh của mình càng ngày càng thanh tịnh hơn. Đây là mục tiêu của bất kỳ người tu hành nào và bất kỳ tông phái nào cũng đều không ngoài mục đích này. Mạt nhân là hàng hậu học rất mong được sự đóng góp ý kiến và sự chỉ bảo của các bậc đi trước. Mọi liên hệ xin gửi vào email nghephap2015@gmail.com

 

 


 

Giới Thiệu Công Nghệ Thông Tin

 

 

1. Xử lý và lưu trữ thông tin.

2. Truyền gửi thông tin

 

 

 


Sự hình thành và phát triển của ngành công nghệ thông tin

nguakeo

Phương tiện truyền thông

động vật kéo

 

 

Thông tin được tính toán, rồi ghi lại bằng tay và được gửi đi bằng xe vật kéo hoặc đi bộ

 

Được sử dụng bởi những người Sumer, người Ai Cập vào 2000 năm trước công nguyên


Thời kỳ phát triển lĩnh vực động lực học1642-1890
(Máy tính cơ học chỉ thực hiện được những phép tính cơ bản)

Dựa vào cơ chế chuyển động của những kết cấu hình học khác nhau Pascal đã thiết kế ra một cổ máy để thực hiện những phép tính cộng và trừ, còn phép nhân và chia được thực hiện theo phương pháp lặp lại nhiều lần phép cộng.

 

Năm 1948, Curt Herzstark (1902-1988), một kỹ sư người Australia đã phát minh ra máy tính cơ Curtas có khả năng thực hiện được 4 phép tính cơ bản, đồng thời có thể thực hiện được phép rút căn bậc 2 và một số phép toán khác dù khá khó khăn. Đây là công cụ máy tính cơ học cuối cùng của nhân loại.

 


Phương Tiện Truyền Thông Phổ Biến Hiện Giờ

 

 

 

Năm 1878, 2 nhà sản xuất xe đạp đến từ nước Anh là Otto và Wallace phát minh nên mẫu xe đạp 2 bánh mang tên Kangaroo. Đây là chiếc xe đạp được phổ biến rộng rãi đầu tiên được trang bị hệ thống sên – dĩa đầy đủ nhất


Thời kỳ phát triển lĩnh vực khí động lực học (1833-1940)
(Máy tính được thêm khả năng tự hoạt động)

 

 

 

Bắt đầu thời kỳ tự động hóa. Công nghiệp hóa

Nhờ khả năng tự hoạt động đã giúp máy tính tự động lặp lại một số phép tính cơ bản theo một chương trình điều khiển để giải những bài toán phức tạp hơn. Như phép nhân là thực hiện bởi nhiều phép cộng. Và Alan Turing nhà toán học người Anh đã chứng minh được bài toán “Bất kỳ tính toán nào nếu giải được, dù phức tạp đến đâu, đều có thể phân thành một loạt các bước đơn giản riêng rẽ – tức là có thể viết ra một chương trình trên máy tính để giải bài toán đó”. Đây là bước ngoặt trong khả năng lập trình.

Vào năm 1890, hãng IBM đã dùng thẻ đục lỗ như một chương trình để điều khiển và xử lý dữ liệu của máy tính. Đến năm 1950, thẻ IBM tồn tại khắp nơi trong công nghiệp và chính phủ

 

Hệ thống thẻ đục lỗ trong máy phát nhạc. Còn được gọi là Sách nhạc, một loại đàn châu Âu chơi không dừng. Sử dụng một máy hơi nước làm năng lượng để nó tự hoạt động


Tằm nhìn của các nhà toán học đương thời
Thêm đơn vị điều khiển và đơn vị lưu trữ

Alan Mathison Turing (1912 – 1954) là một nhà toán học người Anh. Năm 1936 đã đưa ra một thiết bị tính đơn giản gọi là máy Turing. Về lý thuyết, mọi quá trình tính toán có thể được thì đều có thể mô phỏng lại trên máy Turning. Mô hình này cũng được xem là cơ sở lý thuyết cho nền trí tuệ nhân tạo của nhân loại

Với mô hình này Alan Turing đã tiên đoán: “Một ngày nào đó, các quý bà sẽ đem máy tính theo mình lúc đi dạo ở công viên và thích thú kể với nhau rằng: ‘Chiếc máy tính nhỏ của tôi nói rằng thời tiết sáng nay thật đẹp!’

Ông cũng thích môn sinh học, đặc biệt là mạng nối giữa các dây thần kinh. Ông tự hỏi: “Tại sao các máy quá tài tình trong việc tính toán mà lại hạn chế sự mô phỏng những hành động tự nhiên giản dị nhất của người như đi, cầm cái ly…)?”

      Một băng (TAPE):hay còn gọi là một bộ nhớ vô hạn, dưới dạng một băng gồm nhiều ô, có thể kéo dài vô hạn về phía phải. (đơn vị lưu trữ)

      Mỗi ô trên băng có thể chứa một ký hiệu thuộc một bộ chữ, gọi là bộ chữ trên băng. Một đầu đọc (HEAD):di chuyển ở trên băng, ở mỗi thời điểm nhìn vào một ô trên băng;

      Một tập hữu hạn các trạng thái, trong đó có phân biệt một trạng thái đầu và một tập hợp các trạng thái đã được thừa nhận;

      Một bộ điều khiển hữu hạn: cho phép cứ với mỗi trạng thái của máy và một ký hiệu đọc được trong ô đối diện với đầu đọc, máy sẽ thực hiện các bước như sau:(đơn vị điều khiển)

      Chuyển trạng thái

      In một ký hiệu trên băng tại ô đang duyệt (nghĩa là thay ký hiệu đọc được trên băng bằng ký hiệu nào đó)

   Dịch chuyển đầu đọc – viết (sang trái (L), sang phải (R) hoặc đứng yên(Æ))


Thời Đại Công Nghiệp


So sánh mô hình von Neumann và tam tế tướng
của Phật Giáo

Năm 1946, nhà toán học MỹJohn Von Neumann (1903 – 1957) đã đề ra một nguyên lý máy tính hoạt động theo một chương trình được lưu trữ và truy nhập theo địachỉ. (thanh ghi,ram(giúp cải thiện tốcđộ)-vẽ thêm đơn vị tính toán )

sodotamtetuong

nhà toán học MỹJohn Von Neumann nhận ra rằng nếu bộ não là một máy tính số với một kiến trúc von Neumann thì chắc chắn nó tính toán với tốc độ của một con rùa. Nhận định này đúng hay sai??? – Phần Danh Sắc hay Ngũ Uẩn sẽnói rõ trong phần công nghệ phần mềm

———————————————————————————————————

Biển Tàng Thức Hay A Lại Da Thức Và Khái Niệm “Vũ Trụ Toàn Ảnh” Của Các Nhà Khoa Học


Tàng Thức, Ý Thức, Mạt Na Thức

Và thập nhị nhân duyên

(các mắc xích này sẽ được giải thích cụ thể ở các phần sau)


PHÂN BIỆT GIỮA TẦNG DỮ LIỆU VÀ TẦNG LƯU TRỮ
hay giữa Mạt na thức và A lại da thức

Máy tính

Chúng sanh hữu tình

Tầng Xử Lý

Ý Thức

Tầng Dữ Liệu

(Thông Tin)

Mạt na thức Chấp trước

Tầng Lưu Trữ

A lại da thức

Tiến trình phân ly của các tầng tâm thức: khi cơ thể tan hoại hoàn toàn, Mạt na thức không còn chổ bám víu buộc nó phải đi tìm một cái thân khác. Tùy vào những loại dữ liệu mà anh ta đang chấp trước như thế nào thì nó sẽ đi tới cảnh giới tương ứng. Chấp trước càng nặng nề thì chiêu cảm cảnh giới càng thấp kém và ngược lại.

Ví dụ: với cùng một giao diện web: trên màn hình laptop chạy khá vừa vặn. Nhưng nếu chạy trang web này trên iphone, ipad,máy tính để bàn, điện thoại… thì chữ giao diện,khung hình, hình ảnh.. Sẽ quá to hoặc quá nhỏ. Nên người thiết kế trang web phải định nghĩa lại những dữ liệu của giao diện cho từng loại thiết bị. Dữ liệu giao diện nhỏ sẽ vào những màn hình nhỏ. Tâm anh rộng lớn sẽ chiêu cảm y báo, chánh báo tương ứng. Rộng lớn, hay nhỏ hẹp tùy vào những dữ liệu mà anh đã lưu trữ. Nghĩa là tùy vào cái tâm chấp trước của anh như thế nào mà sẽ đi vào những cảnh giới như thế đó. Giống như cùng một âm là Sư Phụ, nhưng người Việt hoặc người Hoa hiểu được đó là Thầy, còn người nước ngoài thì không hiểu gì cả. Đó là tùy vào sự chấp trước mà anh đã học hỏi được,nghĩa là người nào cùng cái chấp trước như vậy thì họ mới hiểu. Giống như chúng sanh có cùng nghiệp địa ngục thì mới thấy Địa Ngục còn người bình thường thì không thấy. Hoặc như cùng là nước nhưng mỗi loài thì thấy khác nhau.

Ví dụ: khi cái màn hình bị bể, nếu người chơi còn vướng mắc vào những đối tượng trên màn hình thì họ phải mua màn hình mới. Chỉ có A la hán đã buông được ngã chấp, khi mất thân này họ sẽ không tìm một cái thân khác nữa.Tuy chấp trước thì không còn, nhưng những chủng tử trong Alaida vẫn còn. Tầng A lại da thức không có những khái niệm đẹp, xấu, cao, thấp v.v.. Mà chỉ có những sóng động vi tế đây gọi là vô minh phiền não nhẹ hơn kiến tư phiền não rất nhiều (do sự chấp trước các thông tin của mạt na thức mà sanh ra).

Cùng một đối tượng là nước

Cảnh giới

Hiện tướng

Ngạ Quỹ

Máu mũ

Địa Ngục

Nước đồng sôi

Nhà ở

Người Trời

Cam lồ

Người

Nước


So sánh các điểm giống và khác giữa trí tuệ nhân tạo
và tam tế tướng trong Phật Giáo

sosanhtamtetuong


Thời kỳ phát triển lĩnh vực khí động lực học(1833-1940)
Phương Tiện Truyền Thông Phổ Biến HiệnGiờ

Năm 1894 tại Đức .Xe gắn máy được sản xuất hàng loạt đầu tiên là Hildebrand & Wolfmüller “Motorrad” (hay H&W Motorrad) 

 

Xe hơi không chỉ đơn thuần là một công cụ cơ khí được hoàn thiện; kể từ những năm 1920 gần như tất cả đã được sản xuất hàng loạt để đáp ứng nhu cầu thị trường

 


Thời kỳ phát triển lĩnh vực điện động lực học 1940 – 1955
(bộ phận điều khiển của máy tính được cải thiện)

 

Tháng 6 năm 1951, UNIVAC I (Máy tính tự động phổ thông) được gửi đến Cục Điều tra dân số Hoa Kỳ Máy này sử dụng 5.200 ống chân không và tiêu thụ 125 kW năng lượng

Dùng để điều khiển dòng điện tích, khuếch đại tín hiệu.(gần giống Rơ Le dùng điều khiển dòng điện)

Vào nửa sau thập niên 1950 tranzito lưỡng cực (BJT)[64] đã thay thế ống chân không

Ðây là một cuộc cách mạng mới cho máy tính nhằm tăng tốc độ tính toán vào thời đó vì trước kia máy chỉ có thể nhận được các lệnh từ băng giấy hoặc bìa đục lỗ và nạp vào bằng tay

 


Giải ngố về máy tính lượng tử, chìa khóa cho tương lai loài người


Thời kỳ phát triển ứng dụng điện động lực học 1955 – 1970
(Bộ phận tính toán và lưu trử của máy tính được cải thiện)

 

Transistor hóa không chỉ phát triển CPU, mà còn cả các thiết bị ngoại vi

 

 

Đơn vị tính toán – cổng luận lý

 

Chiếc RAMAC IBM 350 được ra mắt vào năm

1956 và là máy tính có ổ đĩa đầu tiên trên thế giới


Thời kỳ phát triển lĩnh vực điện động lực học (1940-1970)
Phương Tiện Truyền Thông Phổ Biến Hiện Giờ

 

 

Năm 1933, Edwin Howard Armstrong phát minh ra sóng radio biến tần ( Frequency-modulated ) hay còn gọi là sóng radio FM.

Đến năm 1936, tất cả các thông tin liên lạc điện thoại xuyên Đại Tây Dương của Mỹ được truyền sang Anh và Paris đều ứng dụng phương pháp này. Tính đến thời điểm đó, mạng lưới thông tin liên lạc cả hữu tuyến và vô tuyến có thể kết nối Mỹ với gần 187 điểm khác ở nước ngoài

Trong những năm 1950, truyền hình đã trở thành phương tiện chính để định hướng dư luận.[1] Vào giữa những năm 1960, việc phát truyền hình màu và kinh doanh máy thu hình màu tăng ở Mỹ và bắt đầu ở hầu hết các nước phát triển khác

 

 


Thời kỳ phát triển lĩnh vực điện động lực học (1970-2000)
Bắt đầu thời đại bùng nổ thông tin

 

các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ và các dịch vụ sẽ nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng (trên mặt đất) để mọi người kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần. Với các dịch vụ sẵn có trên Internetdoanh nghiệp không phải mua và duy trì hàng trăm, thậm chí hàng nghìn máy tính cũng như phần mềm. Họ chỉ cần tập trung vào kinh doanh lĩnh vực riêng của mình bởi đã có người khác lo cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin thay họ. Google, theo lẽ tự nhiên, nằm trong số những hãng ủng hộ điện toán máy chủ ảo tích cực nhất bởi hoạt động kinh doanh của họ dựa trên việc phân phối các cloud (virtual server). Đa số người dùng Internet đã tiếp cận những dịch vụ đám mây phổ thông như e-mail, album ảnh và bản đồ số.

 


Thời kỳ phát triển lĩnh vực lượng tử lực học (2000 -> tương lai)

Cơ học lượng tử là một lý thuyết cơ học, nghiên cứu về chuyển động và các đại lượng vật lý liên quan đến chuyển động như năng lượng và xung lượng, của các vật thể cực kỳ nhỏ bé.

 

Tương lai của viễn tải và truyền thông lượng tử

 

Ngày nay, khoa học đang nghiên cứu áp dụng “tác động ma quái từ xa” để có thể gởi thông điệp đi tới những nơi vô cùng xa xôi, hơn thế nữa, còn có tham vọng gởi vật thể đi cực nhanh bằng phương thức viễn tải lượng tử. Muốn thực hiện điều này, cần phải có máy tính cực mạnh, nhanh hơn máy tính thông thường hiện nay theo cấp số mũ, gọi là máy tính lượng tử (quantum computer).  

 

Các kĩ sư tại Google vừa chạm tới được một mốc quan trọng trong tin học lượng tử: lần đầu tiên trong lịch sử, họ đã tạo ra một chương trình giả lập lượng tử hoàn thiện của một phân tử hydro. Bằng công nghệ máy tính lượng tử


Viễn Tải Và Máy Tính Lượng Tử – Quantum Teleportation And Computer


Lập trình và ứng dụng

    Tính toán và mô phỏng: Matlab, FORTRAN…

    Điềukhiển tự động: hợp ngữ,C,

    Phần mềm tiện ích trên máy tính: hệ điều hành, word,excel, video,photoshop, …: C,C++,Java…

    Phầ nmềm tiện ích trên mobile:word,excel,video, trình duyệt web,chat …- Ngôn ngữ lập trình: java, python,ruby on rail.

    Lập trình game: c++,C#,Java..

    Lậptrình web: tìm kiếm và phân loại thông tin: quản lý nộidung,cửa hàng…: php

    Hệthống quản lý bằng lập trình web :thương mại điện tử,hệ thống ngân hàng, bệnh viện,khách sạn, nhà hàng, du lịch….:Java,.Net,ruby,python

 

 


Tính toán và mô phỏng

Việc tính toán là công việc sơ khai nhất của máy tính.

Mô phỏng dựa trên máy tính sử dụng các mô hình số học thực tế đã trở thành một công cụ không thể thiếu của thiết kế kỹ nghệ cao cấp. ngành Tính toán Kỹ thuật và Mô phỏng trên Máy tính cung cấp những kiến thức cốt lõi về toán học, cơ khí kỹ nghệ và khoa học máy tính cần thiết cho việc thiết kế sáng tạo các vật liệu, cấu trúc và hệ thống kỹ thuật cao

7/2016 các nhà nghiên cứu của Google đã sử dụng

máy tính lượng tử 
để mô phỏng chính xác năng lượng của phân tử hydro H2

Từ miêu tả tới dự đoán các mô hình hóa học sẽ là một bước ngoặc lớn trong nghiên cứu hóa học lẫn máy tính lượng tử. Đây là một đột phá lớn trong cách con người nghiên cứu hóa học. 
Nhờ vậy máy tính lượng tử có thể mô phỏng lại hàng nghìn kiểu kết hợp phân tử mà không cần phải trải qua hàng nghìn cuộc thử nghiệm, hàng chục năm phát triển và thậm chí tiêu tốn hàng triệu USD để
đưa một phương thuốc đi vào cuộc sống.

Dù có sử dụng những thiết bị đo khí tượng tốt nhất thì việc đưa ra một bản dự báo thời tiết với độ chính xác gần như tuyệt đối vẫn là một công việc không khả thi. Nhưng với sự xuất hiện của máy tính lượng tử thì việc xây dựng một mô hình thời tiết cho một khu vực hay toàn cầu là hoàn toàn có thể làm được.


Lập trình vi điều khiển

Tóm lại, khi hoạt động CPU sẽ thực hiện liên tục 2 thao tác: tìm nạp lệnh và giải mã – thực hiện lệnh.

Thao tác tìm nạp lệnh:

– Nội dung của thanh ghi PC được CPU đưa lên bus địa chỉ (1).

– Tín hiệu điều khiển đọc (Read) chuyển sang trạng thái tích cực (2).

– Mã lệnh (Opcode) từ bộ nhớ được đưa lên bus dữ liệu (3).

– Mã lệnh được chuyển vào trong thanh ghi IR trong CPU (4).

– Nội dung của thanh ghi PC tăng lên một ñơn vị để chuẩn bị tìm nạp lệnh kế tiếp từ bộ nhớ.

Gần đây, việc điều khiển được thực hiện nhờ vào các ứng dụng của ngành điện, thực hiện bằng việc đóng ngắt tiếp điểm relay. Các relay sẽ cho phép đóng ngắt công suất không cần dùng công tắc cơ khí. Ta thường sử dụng relay để tạo nên các thao tác điều khiển đóng ngắt logic đơn giản. Sự xuất hiện của máy tính điện tử (transistor) đã tạo một bước tiến mới trong điều khiển– Kỹ thuật

điều khiển lập trình PLC. PLC xuất hiện vào những năm 1970 và nhanh chóng trở thành sự lựa chọn cho việc điều khiển sản xuất.

Thao tác giải mã – thực hiện lệnh:

– Mã lệnh từ thanh ghi IR được đưa vào đơn vị giải mã lệnh và điều khiển.

đơn vị giải mã lệnh và điều khiển sẽ thực hiện giải mã opcode và tạo ra các tín hiệu đđiều khiển việc xuất nhập dữ liệu giữa ALU và các thanh ghi (Registers).

– Căn cứ trên các tín hiệu điều khiển này, ALU thực hiện các thao tác đã được xác định.

Một chuỗi các lệnh (Opcode) kết hợp lại với nhau để thực hiện một công việc có ý nghĩa được gọi là chương trình (Program) hay phần mềm (Software).


Phần mềm tiện ích trên máy tính

MS-DOS phát hành năm 1981

chỉ cho phép chạy một ứng dụng duy nhất tại mỗi thời điểm. Điều này khác hẳn với Windows

Windows 1.0, phiên bản đầu tiên,

ra mắt năm 1985

30 năm sau Window 10, ra mắt năm 2015

 

WordPerfect 2.20, phiên bản hệ điều hành DOS đầu tiên, xuất hiện vào năm 1982. Đến năm 1986, WordPerfect 4.2 trở thành bộ xử lý văn bản bán chạy nhất. Với sự hỗ trợ mạng LAN (1988), trình menu kéo xuống (1989), chế độ WYSIWYG, có phong cách, hỗ trợ máy in đa dạng, và ngôn ngữ macro, WordPerfect đã cai trị thị trường lúc bấy giờ.

Sau đó là sự xuất hiện của Windows, WordPerfect đã không nhảy sang nền tảng này đủ sớm, tạo điều kiện cho Word trên Windows phát triển rất thoải mái. Microsoft Office được giới thiệu lần đầu vào ngày 1 tháng 8 năm 1989 (ứng dụng văn phòng)


Phầnmềm tiện ích trên mobile

Android là gì?

Android là một hệ điều hành dựa trên nền tảng Linux, được thiết kế dành cho các thiết bị di động có màn hình cảm ứng như điện thoại thông minh và máy tính bảng. Ban đầu, Android được phát triển bởi Tổng công ty Android, với sự hỗ trợ tài chính từ Google và sau này được chính Google mua lại vào năm 2005.


iOS là hệ điều hành trên các thiết bị di động của Apple

 

Android vẫn đang là hệ điều hành dẫn đầu thị phần hệ điều hành smartphone với 86.2% trong quý 2

Chiếc máy tính Apple thế hệ II ra đời vào năm 1977.

Android vẫn đang là hệ điều hành dẫn đầu thị phần hệ điều hành smartphone với 86.2% trong quý 2

Với việc cắt giảm số lượng lớn nhân sự làm việc trong mảng di động, nhiều khả năng Microsoft sẽ khai tử nền tảng Windows Phone cùng việc sản xuất thiết bị di động.

 


Lậptrình game

      Chươngtrình game càng lúc càng mô phỏng rất giống với thếgiới thực bên ngoài, điều gì giúp lập trình gamecó được những phát triển tột bậcnhư vậy. Đó là nhờ sự ra đời của lậptrình hướng đối tượng, Và lập trìnhhướng đối tượng có những đặctính gì khiến nó là phần không thể thiếu trong lậptrình game. Đó chính là nhờ vào 4 đặc tính chủ yếusau.

Var nhietDoPhong = XXX;

If(NguoiVaoPhong == nguoikhoe)

{ HienCongViecCanLam();

if(NhietDo > 25)

HaNhietDoMayLanh(25)

else TangNhietDoMayLanh(25)

}

Else if(NguoiVaoPhong == nguoiyeu)

{ MoNhacNhe();

if(NhietDo > 35)

HaNhietDoMayLanh (35)

else

TangNhietDoMayLanh(35)

}

NgươiKhỏe = {

nhietDoChuan = 25;

DieuChinhPhong()

{

Phong.DieuChinhNĐP(25); Phong.HienCongViecCanLam();

}

}

NgươiBịSốt = {

nhietDoChuan = 35;

DieuChinhPhong()

{ Phong.DieuChinhNĐP(35); Phong.MoNhacNhe();

}

}

Phòng = {

ĐiềuChỉnhNhiệtĐộPhòng(nhietDoChuan )

{

if(nhietDoPhong > nhietDoChuan )

HaNhietDoMayLanh(nhietDoChuan )

Else TangNhietDoMayLanh(nhietDoChuan)

}

HienCongViecCanLam() {…}

MoNhacNhe() {….}

}

Chương trình thực thi Của lập trình hướng đối tượng Đơn giản hơn lập trình thông thường nhiều

 

Var nhietDoPhong = XXX;

Var nguoiVaoPhong = YYY;(khỏe hoặc yếu)

nguoiVaoPhong. DieuChinhPhong();

 

1.  Tính đa hình: là khi có mộtđối tượng nào đó tiếp nhận mộtthông điệp ( như nếm một hụm nướcchẳng hạn) thì nó sẽ có phản ứng lại.Nhưng với một đối tượng khác mà cùng vớicách tiếp nhận đó và thông điệp đó, thì nó lạiphản ứng theo kiểu khác.

Ví dụ: cùng một nhiệt độ 30, anh A thấy nóngnên bật quạt, anh B thấy lạnh thì đi tắt quạt.Cùng một nhiệt độ 30 nhưng có 2 hành độngkhác nhau. Đặc tính này rất gần với thế giớithực của chúng ta. Và lập trình game mô phỏng rấtgiống với thế giới thực. Nên người lậptrình game phải gặp trường hợp này rất nhiều.Trong lập trình hướng đối tượng, mỗiđối tượng sẽ đảm trách hành vi củanó. Vì vậy, trong code của bạn không còn phải bậntâm đến việc xem xét các lựa chọn nào cho trườnghợp cụ thể nào. Mà do đối tượng đóđảm trách. Ngoài ra còn giúp cho code của bạnđược phân rã thành nhiều phần nhỏ hơngiúp chương trình dễ nhìn, dễ kiểm soát hơn rấtnhiều.


Lập trình game – Lập trình hướng đối tượng

2. Tính trừu tượng: là khả năng trừu tượng hóa một thực thể thành dạng dữ liệu để có thể mô phỏng và truyền thông. Thông tin về đối tượng càng nhiều thì sự biểu diễn về đối tượng càng chính xác. Trong những chương trình game lớn như hiện nay số lượng các đối tượng ngày càng nhiều và hầu như là không có một đối tượng nào độc lập mà không có một liên kết nào đối với đối tượng khác, vì vậy khi phân ra thành các bộ phận nhỏ hơn để dễ quản lý hơn thường gặp phải trường hợp đối tượng của bộ phần này sẽ gọi đến phương thức của đối tượng nằm ở bộ phận khác. Mà lúc này người này đang cần tập trung vào những đối tượng của bộ phận này khi đó họ phải tạo ra một đối tượng đơn giản chỉ chứa những phương thức mà bộ phận này cần. Mà thông thường là mỗi nhóm sẽ đảm nhiệm mỗi bộ phận khác nhau và tiến hành thực hiện một cách độc lập. Như các công trình hay những thiết bị phức tạp hiện nay thường là bao gồm rất nhiều các bộ phận nhỏ khác kết hợp lại, và mỗi bộ phận sẽ do một nhóm chuyên trách đảm nhiệm (như CPU thường do hãng Intel đảm trách, Ram là do Kingston, Mainboard là IBM v.v..). Và khi lắp ráp lại muốn nó ăn khớp với nhau các kỹ sư cần quy định các chuẩn giao tiếp để kết nối các bộ phận với nhau. Tương tự vậy, các kỹ sư phần mềm cũng cần thiết kế ra các lớp giao diện thống nhất ngay từ đầu xem như là các chuẩn giao tiếp để hướng dẫn, gợi ý cho các nhóm lập trình biết khi kế thừa cái lớp giao diện này bắt buộc phải thực hiện những phương thức nào, để khi lắp ghép các bộ phận lại nó có thể ăn khớp với nhau. Lớp giao diện này chỉ mang tính chất thông tin cho các lập trình biết, còn khi chương trình thực thi thì không có một đối tượng nào

hiện thực từ lớp này. Nên những lớp này cũng có tên là lớp trừu tượng.

 

Những đối tượng mà nhóm (Developer) B cần làm cụ thể

Những đối tượng Nhóm Developer A cần làm cụ thể,

Còn Nhóm Developer B chỉ làm giả lập

NgựaChiến extend PhươngTiệnVC

{

NạpNăngLượng() { Ăn(20Kcal) }

}

 

XeTăng extend PhươngTiệnVC, VũKhíTừXa

{
NạpNăngLượng() { ĐổXăng(20Lit) }

}

SúngAKA extend VũKhíTừXa

 

Kiếm extend VKĐGần

{

RaTay() { Chém(); }

}

 

DaoGăm extend VKĐGần

{

RaTay() { Đâm(); }

}

Interface PhươngTiệnVChuyển

{

NạpNăngLượng();

Dừng();

QuẹoTrái();

Chay(tocDoChay);

QuẹoPhải();

}

Interface VũKhíTừXa

{

NapDan();

Bắn();

XácĐịnhMụcTiêu(x,y)

}

 

Interface VKĐGần

{

RútRa();

RaTay();

}

 

KỵBinh

{

var NgựaChiến = ‘’;

var kiếm = new Kiếm();

TruyKich

{

if(doituong = benphai) NgựaChiến.QuẹoPhải()

NgựaChiến.Chạy(20);

if( Đối Phương.Gầnkề )

kiếm.RútRa();

if(Đối Phương.Cậnkề )

kiếm.RaTay();

}

}

 

PháoBinh

{

var XeTăng;

KichHoatBan()

{

if(XeTăng.hếtXăng)

XeTăng.NạpNăngLượng()

if(XeTăng.hếtĐạn)

XeTăng.NapĐạn(2);

XeTăng.XácĐịnhMụcTiêu();

XeTăng.Bắn();

XeTăng.Bắn();

}

}

 


Lập trình game – Lập trình hướng đối tượng

3.Tính kế thừa: khi quan sát thế giới thực ta thấyrằng không có một đối tượng nào tựnhiên xuất hiện mà không có một sự kế thừatừ đối tượng cha. Như để có mộtchiếc máy bay như ngày hôm nay là một sự kế thừavề kiến thức và công nghệ của các thế hệđi trước. Nếu không có sự kế thừa nàythì bạn sẽ tốn không biết là bao lâu để cóthể hoàn thành xong một chiếc máy bay. Cũng nhưđể có được một thân người loàingười cũng phải trải qua một quá trình tiếnhoá từ rất lâu xa. Nên để có được mộtthân người chúng ta cũng phải kế thừa từcha của mình. Nhất là những game mô phỏng thế giớithực các đối tượng càng về sau càng tinh sảovà phức tạp là nhờ tính kế thừa từ cácđối tượng đi trước. Tính kế thừanày thực chất là quá trình sao chép các phương thức,thuộc tính từ lớp cha cho lớp thừa kế nó.

Người extend ĐộngVật

{ ThếĐứng = “thẳng”

Nói(){};

HọcHỏi(){};

PhátMinh(){};

ThiếtKế(){};

MặcÁo();

}

 

Ngựa extend Động Vật

{ ThếĐứng = “Ngang”

ChuyênChở();

ĐáSau();

HấtNgã();

}

LínhĐánhTrận extend Người

{

TậpHuấn();

NhậnLệnh();

}

 

Bộ Binh extend LínhĐánhTrận

{

QuýnhVõ();

MúaKiếm();

BắnSúng();

}

 

Kỵ Binh extend LĐTrận

{

CưởiNgựa();

MúaKiếm(); BắnSúng();

}

 

ĐộngVật

{

Ăn() {};

Uống() {};

Ngủ() {}; DiChuyển(){};

}

 


Lậptrình game -Lập trình hướng đối tượng

4. Tính đóng gói: cónghĩa là che giấu một số phương thức vàthuộc tính không cho phép môi trường bên ngoài truy cậpvào được các dữ liệu bên trong của mộtđối tượng. Nếumuốn điều khiển đốitượng phải thông qua những phương thức,những thuộc tính mà người thiết kế cho phéplộ ra cho bên ngoài thấy, những phương thức,thuộc tính này còn gọi là phần giao diện bề mặtdùng để giao tiếp với thế giới bên ngoài. Giốngnhư chiếc máy giặc người dùng chỉ điềukhiển được máy giặt thông qua các nút điềukhiển trên bề mặt, còn những bảng mạchđiểu khiển sẽ ẩn bên trong người dùngkhông thể thấy. Nếu để lộ hết các chứcnăng bên trong ra, người dùng sẽ bối rối vàtrở nên khó sử dụng. Nhưng nhờ tính đóng góinày, chỉ cần đọc 1 tờ hướng dẫnngười dùng có thể điều khiển đượcmáy giặt theo ý muốn. Tương tự vậy, trong lậptrình hướng đối tượng bạn có thể sửdụng những đối tượng của ngườikhác đã viết rất dễ chỉ cần đọcvài hướng dẫn không cần nghiên cứu sâu vào bêntrong đối tượng ấy có những phươngthức gì, thuộc tính gì mà vẫn có thể sử dụngđược. Điều này giúp bạn sử dụngđối tượng đó dễ dàng hơn. Đặcbiệt là khi sử dụng những đối tượngdo người khác viết thì tính đóng gói là điềukhông thể thiếu. Đối với những dự án lớn,cần sử dụng nhiều đối tượng củanhiều nhóm lập trình khác nhau, nên nhờ tính năng này đãtiết kiệm được một lượng thờigian khổng lồ.

Access Levels

Modifier

Class

Package

Subclass

World

public

Y

Y

Y

Y

protected

Y

Y

Y

N

no modifier

Y

Y

N

N

private

Y

N

N

N

Máy Giặt {

public Start();

public Stop();

public CàiĐặtThờiGianGiặt();

public CàiĐặtChếĐộGiặt(Mạnh);

private KiểmTraXàPhòng();

private MởVanNước();

private QuayThùngGiặt();

Private MởVanNướcXả();

……

}


Sự trùng hợp kỳ lạ về các tính chất cơ bản của lập trình hướng đối tượng và
các định nghĩa về ngũ uẩn (danh sắc) trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm

Hình ảnh trên màn hình tương đương sắc ấm là phần hiện tướng.
Tính Đa Hình: là khi có một đối tượng nào đó tiếp nhận một thông điệp thì nó sẽ có phản ứng lại. Nhưng với một đối tượng khác mà cùng với cách tiếp nhận đó và thông điệp đó, thì nó lại phản ứng theo kiểu khác (như chó ăn cức thấy ngon, người ăn vào thì thấy buồn nôn) .
Tính trừu tượng: là khả năng trừu tượng hóa một thực thể thành dạng dữ liệu để có thể mô phỏng và truyền thông. Thông tin về đối tượng càng nhiều thì sự mô phỏng về đối tượng càng giống nhưng để chính xác hoàn toàn thì không bao giờ được. Trong những chương trình game lớn như hiện nay số lượng các đối tượng ngày càng nhiều và hầu như là không có một đối tượng nào độc lập mà không có một liên kết nào đối với đối tượng khác, vì vậy khi phân ra thành các bộ phận nhỏ hơn để dễ quản lý hơn thường gặp phải trường hợp đối tượng của bộ phần này sẽ gọi đến phương thức của đối tượng nằm ở bộ phận khác. Mà lúc này người này đang cần tập trung vào những đối tượng của bộ phận này khi đó họ phải tạo ra một đối tượng giả lập đơn giản chỉ chứa những phương thức mà bộ phận này cần đây cũng là một dạng trừu tượng hóa. Mà thông thường là mỗi nhóm sẽ đảm nhiệm mỗi bộ phận khác nhau và tiến hành thực hiện một cách độc lập. Vì vậy các kỹ sư phần mềm cần thiết kế ra các lớp giao diện thống nhất ngay từ đầu xem như là các chuẩn giao tiếp để hướng dẫn, gợi ý cho các nhóm biết khi kế thừa cái lớp giao diện này bắt buộc phải thực hiện những phương thức nào, để khi lắp ghép các bộ phận lại nó có thể ăn khớp với nhau. Lớp giao diện này chỉ mang tính chất thông tin cho các lập trình biết, còn khi chương trình thực thi thì không có một đối tượng nào hiện thực từ lớp này. Nên những lớp này cũng có tên là lớp trừu tượng.

Sắc Ấm: là phần hiện tướng, phần vật chất.
Thọ Ấm:
Thọ Ấm là chỉ năm Thức Trước, Thọ Ấm chưa phá thì chẳng lìa nổi năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Từ nơi năm căn mà sanh cảm thọ, cùng tiếp nhận một đối tượng như nhau nhưng mỗi người cảm thọ mỗi khác. Như cùng là nước thiên nhân thấy là cam lồ, cá thấy là môi trường sống, địa ngục thấy là nước đồng sôi, quỹ thấy là máu. Cái thấy biết khác nhau này là do nghiệp báo mà ra nghiệp báo càng nặng thì cái thấy biết này càng ô nhiễm, nên gọi là kiến trược.
Tưởng Ấm : Như Kinh Thủ Lăng Nghiêm có nói: “
Tư tưởng vốn không có thật tướng, do tâm mà thành có tướng, nên gọi là Tưởng. Nghĩ tưởng đến trái mơ chua thì chảy nước miếng. Khi đứng trên vực cao thì cảm thấy lòng bàn chân rợn rợn. Trái mơ chưa bỏ vào miệng, chỉ có nói đến thôi, thì nước miếng do đâu mà tới? Nên có là do Tưởng vậy. Lại nữa, trong mộng khi nghe nói đến trái mơ chua, người nói chẳng phải là người thật, cái Nghe lại chẳng phải lỗ tai, thì nước miếng do đâu mà tới, đó cũng là kết quả của Tưởng vậy. Tất cả phiền não, do Tưởng Niệm mà có. Thế nên, Niệm hết Tưởng tiêu, tâm sanh diệt liền diệt, phiền não từ đâu mà khởi, nên có thể vượt khỏi Phiền Não Trược. Tưởng Ấm chưa hết thì khi còn thức nó sẽ bám lấy hình tướng, khi ngủ thành ra mộng mị, bởi thế đuổi theo bóng dáng tiền trần thô trọng. Tưởng hay hòa hợp, biến đổi, khiến tâm theo cảnh, cảnh theo tâm. Tư (Tư Tưởng) có nghĩa là tư liệu là những dữ liệu lưu trữ riêng tư của mỗi người. Như anh A từ nhỏ đến lớn chỉ ở nơi bộ lạc hẻo lánh chỉ có thấy những cô gái trong bộ lạc nhưng khi lên đô thị thấy một cô gái bình thường thôi nhưng anh cảm thấy quá là đẹp. còn anh B từ nhỏ đến lớn bên cạnh anh toàn là mỹ nhân thì khi gặp cô gái bình thường đó anh ấy cảm thấy cô ấy rất là xấu. Những tư liệu này chỉ là những bóng dáng thô trọng nhưng vì không thấy được điều đó nên con người cứ tưởng càng biết nhiều càng tốt mà không biết dù có chứa bao nhiêu đi nữa thì chỉ giúp hiểu chính xác hơn chứ không bao giờ thấy hoàn toàn chính xác được. Vì chưa hoàn toàn chính xác nên càng thúc đẩy muốn tìm hiểu thêm mà càng tìm hiểu thêm cái bóng dáng thô trọng này càng dày đặc thì càng phiền não nên gọi là phiền não trược. Khi sống là một cơ hội cho linh hồn học hỏi về cái thế giới tự nhiên này, đến khi mất đi không có cái thân này lúc đó nó phải đi đầu thai để tiếp tục học hỏi và cái gì khiến con người muốn học hỏi không bao giờ chán đó là cái thân nam, thân nữ, chán người này rồi thì tự nhiên có người khác để nó tìm hiểu điều này khiến nó không bao giờ cảm thấy học hỏi cho đủ cho nên mãi luân chuyển trong luân hồi là vậy, chỉ đến khi phá được tưởng ấm này tức là chứng Lậu Tận Thông thì mới dứt được cái niệm dăm dục này.

Chư Phật Như Lai là pháp giới tạng thân vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh. Vì thế, lúc tâm các ngươi tưởng Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh”. Vì thế mới nói: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật thì hiện tại, tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa”. (Trích Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục)


Cơ chế tác động qua lại giữa tâm và cảnh

Tâm theo cảnh

Tùy vào công việc mỗi người sử dụng máy tính với mục đích khác nhau sẽ để lại trên máy tính các loại dữ liệu khác nhau.

Dựa vào chổ giao tiếp giữa các bộ phận của chương trình mà các kỷ sư thiết kế ra các lớp giao diện (chỉ có tác dụng thông tin đến các nhóm lập trình chứ không có đối tượng nào được hiện thực từ lớp giao diện này)

Cảnh theo tâm

Dựa vào dữ liệu trên máy tính mà chiếc máy tính có thể phát ra những bài nhạc, những bộ phim khác nhau.


Dựa vào các lớp giao diện này các nhóm lập trình viên viết ra các lớp kế thừa từ lớp giao diện này, và khi chạy chương trình chỉ những lớp kế thừa này mới có thể tạo ra được những đối tượng hoạt động trong chương trình

Tâm theo cảnh

 

Cảnh theo tâm

 

 vướng víu lượng tử Một đặc tính bí ẩn của cơ học lượng tử

Thuở Phật còn tại thế, có ba người anh em nghe ở nước Tỳ Da Ly có người dâm nữ tên là Am La Bà Li. Lại nghe ở nước Xá Vệ có người dâm nữ là Tu Mạn Na, lại nghe ở thành Vương Xá có người dâm nữ tên là Ưu Bát La Bàn Na. Tất cả đều tuyệt sắc. Ngày đêm nhớ nghĩ, mới mộng thấy cùng các nàng đó ân ái. Đến khi tỉnh dậy, nhớ lại mới nghĩ rằng: “Người nữ chẳng tới, ta cũng không đi, mà chuyện dâm đã thành đầy đủ”.Nhân đó mà tỏ ngộ tất cả các pháp đều như thế cả, do đó đốn chứng Duy Tâm.Ôi! Như ba người ấy đáng gọi là tỏ suốt được sự hư vọng của Tưởng Ấm. Đốn chứng Duy Tâm chẳng phải là đã thấy Tánh Diệu Chân Như sao?

 


So Sánh Tính Kế Thừa Và Hành Ấm

Tính kế thừa: Là quá trình sao chép các phương thức, thuộc tính từ lớp cha sang lớp con. Và sự sao chép này thực chất là một sự di chuyển thông tin dạng mã nhị phân của đối tượng cha sang đối tượng con. Năng lượng cung cấp cho sự di chuyển này là dòng chuyển động của các điện tử, nếu dòng điện không có thì không thể có khả năng này. Chẳng hạn như máy chụp hình, khi chụp hình sẽ có một dòng điện tác động đưa tín hiệu các đốm sáng tại ống kính vào tấm phim. Cơ chế vận chuyển này chỉ thực hiện được khi có một dòng điện chuyển động trong các thiết bị. Hoặc như xe máy, xe hơi tự chuyển động được là nhờ sự vận hành, sự chuyển động của các phân tử khí bên trong các động cơ đốt. Nên ngành công nghệ tự động hiện nay thực chất cũng là sử dụng tính kế thừa này. Là nhờ dòng điện hay sự chuyển động của các phân tử khí vận chuyển thông tin hay các vật thể từ nơi này tới nơi khác. (cũng giống là Từ lớp cha tới lớp con). Nên dòng điện là căn nguyên chính để chương trình hoạt động, nếu bị mất điện thì ngay lập tức tất cả các đối tượng trên màn hình cũng sẽ biến mất. Nên dòng điện là cơ sở sanh diệt chung của những đối tượng trong chương trình máy tính.

Vì thế càng ngày các đối tượng trong các trò chơi về sau càng phức tạp và hấp dẫn hơn các trò chơi trước đó.

Hành ấm: Giống như con người không thể tự động xuất hiện mà nó là một sự kế thừa từ cha nó, là sự di chuyển các thông tin, tính chất như hình thái, màu sắc, cấu trúc từ người cha sang người con, sự di chuyển thông tin này ý thức con người không thể kiểm soát được vì nó thuộc phạm vi của hành ấm. Như kinh Thủ Lăng Nghiêm có nói: Người đó nơi sự Sanh Diệt đã thấy cội gốc, biết rằng người sanh người, rõ chim sanh chim, quạ xưa nay đen, hộc xưa nay trắng, người, trời thì thân đứng, súc sanh thì thân ngang, màu trắng không phải do tẩy mà thành, màu đen chẳng phải do nhuộm mà ra (nghĩa là những đặc điểm của chúng sanh đều do kế thừa, do di chuyển thông tin, đặc tính từ cha sang con chứ không phải do bên ngoài nắn tạo, tô vẽ lên). thấy được cái cơ sở Sanh Diệt chung, miên miên mật mật, đổi dời vi tế, ấy là sóng lăn tăn mà không gió. Dã mã là bụi lăng xăng, vùn vụt là chớp nhoáng vậy. Hành Ấm vi tế giống như bụi lăng xăng khi mặt trời chiếu qua khe cửa. Vùn vụt chớp nhoáng thì rõ là không có tướng trụ, chợt sanh chợt diệt, không còn ảnh tướng nặng nề nên gọi là lăng xăng sơ tượng (thanh nhiễu). Cái lăng xăng sơ tượng là căn nguyên của phù căn tứ trần, thể của nó vốn không, là cái then chốt phát sanh, thật là ở chỗ này. Dính che tánh lặng trong mà phát khởi, thì có sáu Căn. Từ người, trời cho đến trùng, kiến, không loài nào không có bốn Đại, sáu Căn, nên cái lăng xăng sơ tượng của bốn Đại là cơ sở Sanh Diệt chung của mười hai loài chúng sanh. Đây gọi là phạm vi của Hành Ấm. Hành Ấm hết rồi thì cái then chốt chung u ẩn giản phác máy động sanh ra các loài thế gian bỗng chốc nát tan. Giềng mối vi tế, mạch ngầm gây nghiệp chịu quả báo của ngã thể chúng sanh, cảm ứng đều dứt bặt. Gọi là then chốt (cơ) vì sâu xa không thể thấy, vi tế không thể chỉ ra, như giềng mối của lưới, như bâu cổ của áo. Cái giềng mối then chốt này là căn nguyên của sanh diệt. Ngã Thể chúng sanh (Bổ Đặc Già La) là cái thân trung ấm hướng theo các nẻo, đền nhân trả quả, mạch lạc cảm ứng, mảy tóc không sai. Nay thì cái then chốt sanh khởi nát tan thì nghiệp nhân đã tiêu mất, lấy gì dẫn quả? Đã không có báo thân, lấy gì đền nhân? Nhân, quả đều mất, cảm ứng dứt bặt, ấy là tuyệt mất cái mạch ngầm sâu xa vi tế truyền tống chủng tử vậy. Sự chuyển động của mạch ngầm rất là vi tế. Mạch ngầm không dứt thì Mệnh Căn chẳng đoạn. Mạch dứt, then chốt tiêu vong, mới có thể vào cảnh Vô Sanh vậy.

Đây là nguyên nhân của “chúng sanh trược” là những thế hệ sau: thân, tâm, thế giới càng ngày càng ô nhiễm hơn các thế hệ trước.


So Sánh Tính Đóng Gói Và Thức Ấm

Tính Đóng Gói:  là không cho bên ngoài biết được bên trong đối tượng có những gì hay được cài đặt như thế nào. Nếu muốn điều khiển đối tượng phải thông qua những phương thức, những thuộc tính mà người thiết kế cho phép lộ ra cho bên ngoài thấy. những phương thức, thuộc tính này còn gọi là phần giao diện bề mặt dùng để giao tiếp với thế giới bên ngoài. Giống như con người có mắt, tai, mũi, lưỡi, và lớp da, lớp thịt bao bọc bên ngoài cơ thể còn gọi là 6 căn. Chính đặc tính trong và ngoài này khiến con người, con vật, hay tất cả các hạt vi trần luôn có một ảo tưởng về cái Ta, cái Tôi nào đó ẩn nấp trong cái đối tượng này từ đó sanh ra bảo tồn những tính chất hình thái này và tùy theo nhân duyên nghiệp báo mà sự ảo tưởng về cái ta càng lúc càng phức tạp hơn. Và sự phân biệt trong và ngoài, ta và người càng lúc càng ấn tượng hơn, mà không thấy được rằng tất cả chúng sanh là đồng một thể nên càng lúc càng bám chặc hơn vào cái sanh mạng này và vì cái sanh mạng này mà có thể bất chấp luân thường đạo lý chỉ để bảo tồn cái sanh mạng này. Nên gọi là Mạng trược.

Khi cúp điện máy tính không còn dòng điện tử chuyển động nhưng thông tin, dữ liệu trong ổ cứng vẫn còn. Nếu thấy được dữ liệu trong ổ cứng chỉ là các bit 0,1 tức là phá được thức ấm

Thức Ấm: Sáu Căn rỗng sạch, không còn rong ruổi, trong ngoài trong lặng sáng suốt, nhập vào cái Không Chỗ Vào. Nếu trong tính Đồng đã chứng được của các loài mà tiêu tan sáu căn, khi hợp, khi chia được thành tựu, thấy nghe thông nhau, dùng thay lẫn nhau một cách thanh tịnh, mười phương thế giới cùng với thân tâm như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt thì gọi là Thức Ấm hết. Người ấy có thể siêu vượt Mạng Trược. Đã được tánh Đồng, thì trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật như ta một Thể, thuần nhiên một Biển Tạng Thức vậy.
Nhập vào lại vào thêm, sâu vào lại sâu thêm, cho đến nhập vào cái Không Chỗ Nhập, thẳng thấu đến chỗ bổn nguyên. 
Hết cả mười phương cõi, duy Tâm duy Thức mà thôi. Còn đâu có được cái chẳng đồng.
Nếu ở chỗ nguyên do thọ sanh của mười hai loài mà đã được tánh Đồng, lại dùng cái sức Định Huệ làm tiêu tan sáu căn, khiến cho sự phân chia có thể hợp lại, sự nghẽn che có thể mở ra. Mở chia, đóng hợp tự do, sáng sạch chẳng nương theo căn, cái thấy ấy, cái nghe ấy gần với chỗ viên thông thì sáu căn thanh tịnh, có thể dùng thay nhau. Trong là thân tâm, ngoài là thế giới đã trong ngần sáng suốt. Mười phương đều đồng, bèn cùng với tính Đồng mà hết mất. Bởi thế, có thể siêu vượt Mạng Trược vậy.

Cái Thức Ấm trong lặng sáng suốt, do Hành mà trôi chuyển. Hành Ấm đã Không, đã diệt cái tướng trôi chảy sanh diệt, nhưng còn nương cái nguồn Thức trong lặng chẳng trôi, nên ở chỗ tịch diệt, sự tinh diệu chưa viên mãn. nguồn Thức vẫn còn, nên chưa được Viên. Nhưng đã về nguồn Thức, tiêu tan sáu Căn, về trong một chỗ nên có thể khiến nơi thân mình sáu căn ngăn cách nhau mà có thể dùng thay nhau.


Lập trình web

Nhờ công nghệ mạng máy tính phát triển, mọi máy tính đều có thể kết nối với nhau, số lượng người sử dụng tăng trưởng vượt bậc. Dữ liệu dần dần được lưu trữ trên mạng.

Cơ sở dữ liệu dạng file: dữ liệu được lưu trữ dưới dạng các tập tin có thể là file chữ, những trang web sử dụng dữ liệu dạng này gọi là những trang web tĩnh.

Những trang web này truy cập dữ liệu nhanh, nhưng tìm kiếm dữ liệu theo từ khóa bị hạn chế.

Thông tin của một trang web càng lúc càng đa dạng. Nhu cầu lưu trử thông tin và tìm kiếm thông tin trên mạng càng tăng cao.

Cơ sở dữ liệu quan hệ ra đời: dữ liệu được lưu trữ trong các bảng dữ liệu gọi là các thực thể, giữa các thực thể này có mối liên hệ với nhau gọi là các quan hệ, mỗi quan hệ có các thuộc tính, trong đó có một thuộc tính là khóa chính. Giúp truy xuất dữ liệu theo từ khóa động bằng cách sử dụng câu lệnh truy vấn.

SELECT [DISTINCT] Column(s) FROM TableName WHERE  TENLOT= ‘Lê’

Các quan hệ giữa các bảng với nhau giúp việc lưu trữ không bị trùng lập giảm thiểu được dung lượng lưu trữ rất nhiều. Các nhà sản xuất chương trình quản lý cơ sở dữ liệu nổi tiếng như: Microsoft SQL, Oracle.

Những trang web sử dụng cơ sở dữ liệu quan hệ gọi là trang

web động, trang web động dần thây thế những trang web tĩnh .

Cơ sở dữ liệu bán cấu trúc: dữ liệu được lưu dưới dạng XML, với định dạng này thông tin mô tả về đối tượng thể hiện trong các tag. Đây là cơ sở dữ liệu có nhiều ưu điểm do lưu trữ được hầu hết các loại dữ liệu khác nhau nên cơ sở dữ liệu bán cấu trúc là hướng mới trong nghiên cứu và ứng dụng. Nhu cầu truy cập dữ liệu không phụ thuộc vào phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu


Lập trình ứng dụng web

Nhờ mạng máy tính càng ngày càng tiện lợi nhu cầu để quản lý một hệ thống doanh nghiệp (gồm nhiều bộ phận có liên quan với nhau ) bằng website trở nên dễ dàng và thông dụng.

Mỗi bộ phận trong hệ thống doanh nghiệp được trừu tượng hóa thành một đối tượng. Lập trình hướng đối tượng bắt đầu được áp dụng vào cho công việc. Nghề lập trình game dần trở nên lỗi thời.

Và để quản lý các đối tượng này, cộng nghệ phần mềm bắt đầu tách chương trình thành 3 tầng.

– Tầng Presentation: View được dùng để giao tiếp với người dùng, nhiệm vụ chính là hiển thị dữ liệu và nhận dữ liệu từ người dùng.

– Tầng Business Logic: Controler(điều khiển) nhiệm vụ quản lý các đối tượng (các bộ phận trong hệ thống doanh nghiệp). Business (nghĩa là doanh nghiệp).

– Tầng Cơ Sở Dữ Liệu: (Model) lưu trữ dữ liệu, cho phép lớp Business Logic có thể tìm kiếm, trích xuất, cập nhật… dữ liệu.

 

 


So sánh công nghệ phần mềm và thập nhị nhân duyên

 

 


abc

Bản chất của mắt xích Thức là gì?

Trình tự nghiên cứu cấu tạo vật chất của vũ trụ:
1. Các vật thể vĩ mô (chính xác hơn, các vật thể thông thường hàng ngày quan sát được bằng mắt thường)
2. Cấu trúc phân tử
3. Cấu trúc nguyên tử với hạt nhân (proton và nơtron) với điện tử
4. Các hạt cơ bản
5. Các quark
6. Các dây : đâu là những phần tử căn bản không còn phân tách ra được tạo ra thế giới vật chất? Sâu vào bên trong các hạt phân tử, còn có những thứ khác. Thứ khác này nhảy nhót trong các sợi năng lượng. Nó trông như một sợi dây dao động  đó là nơi bắt nguồn của lý thuyết dây.
Trong lý thuyết dây, tất cả các lực và các hạt được miêu tả theo một lối hình học phong nhã, như ước mơ của Einstein về việc thiết lập vạn vật từ khung hình học của không-thời gian.

Nhập vào lại vào thêm, sâu vào lại sâu thêm, cho đến nhập vào cái Không Chỗ Nhập, thẳng thấu đến chỗ bổn nguyên, Hết cả mười phương cõi, duy Tâm duy Thức mà thôi (Trích Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
HT Tịnh Không có giảng rằng:  Trong tâm phàm phu khởi ý niệm, trong một niệm này có mấy niệm? Như vậy mới biết, ý niệm này rất thô. Trong ý niệm này, có bao nhiêu ý niệm vi tế? Có mấy tướng, có mấy thức?. Mỗi ý niệm đều có tướng, tướng là phần hiện ra hình tướng là vật chất (cụ thể là các quark và lepton…). Có mấy thức (là sự kết hợp và phân chia)?Trong tam tế tướng gọi là chuyển tướng hay chuyển thức, gọi là “niệm niệm thành hình, hình đều có thức(Nghĩa là đều có sự kết hợp và chuyển biến)”.Và Bồ Tát Di Lặc trả lời trong 1s có khoảng 1600 ngàn tỷ lần chuyển biến. Đây là một loại tướng tương tợ tiếp nối, không thể nói là tương tục. Tương tục thì niệm trước phải giống với niệm sau, đó là tương tợ, nó không giống nhau, niệm trước không phải là niệm sau, niệm sau cũng không phải là niệm trước, là tướng tương tợ tiếp nối. (đều là nó luôn biến hóa theo không-thời gian).

Lý thuyết dây: Là một  lý thuyết mô tả mọi  lực cơ bản trong tự nhiên đã
biết (lực hấp dẫn, lực điện từ, lực yếu và mạnh), và vật chất (quark và lepton) trong một hệ thống toán học hoàn toàn.
Các dây này có thể rung động trong những mode khác nhau ( tương tự như một dây ghi-ta có thể sinh ra các note nhạc khác nhau),với mỗi mode xuất hiện như một hạt ( electron, photon…).
Một cách ước định, những dây có thể phân chia và kết hợp, chúng xuất hiện như những hạt phát xạ và hấp thụ những hạt khác, dẫn đến các lực tương tác đã biết giữa các hạt. (cũng chính là các lực cơ bản trong tự nhiên) ( Trích Tổng quan về Lý thuyết dây)

Như vậy thực chất các hạt không phải là một điểm mà là một dạng sóng động không ngừng, Phật Giáo thì gọi nó là biển như lai tạng diệu chân như tánh, biển tàng thức để mô tả vũ trụ. Tàng thức hay còn gọi là A lại da thức. Mà các nhà khoa học gọi nó là vũ trụ toàn ảnh để hiểu rõ xin xem các video clip tại đây
Câu nói “duy thức sở biến”: thức có nghĩa là sự kết hợp và và chuyển biến các chủng tử trong A lại da sanh ra sự biến hóa sinh ra các lực cơ bản. như kinh Hoa Nghiêm nói đây là nguyên nhân “xuất sanh vô tận”.


Hiện tượng vướng víu lượng tử Sự tương tác kỳ lạ của những hạt photon

Ví dụ 1: Khi chiếu chùm ánh sáng trắng đi qua một lăng kính nó sẽ tách ra thành một chùm ánh sáng nhiều màu. Khi quay cái lăng kính này thì chùm ánh sáng nhiều màu đi ra khỏi lăng kính cũng biến đổi theo.

 Ví dụ 2:Giả sử ta có một mạch điện gồm 2 đầu vào và 1 đầu ra, một đầu vào giữ cố định còn đầu vào còn lại ta làm cho nó thây đổi khi đó đầu ra sẽ thây đổi theo

Điều đó cho ta thấy rằng bất kỳ một hệ tương tác nào luôn có ít nhất 3 đối tượng một đối tượng cố định, một đầu vào biến thiên làm cho một đầu ra  biến thiên theo. Như trong Phật giáo gọi là tam tế tướng là Nghiệp tướng, chuyển tướng và hiện tướng. Và một câu khác mà ta hay gặp là 1.nhân, 2.duyên và 3.quả báo. Tương tự đối với hiện tượng vướng víu lượng tử được tạo ra với công cụ khoa học ngày nay, các nhà khoa học tạo ra được những hạt hạ nguyên tử cụ thể là các hạt photon có sự tương tác hay gọi là có sự vướng víu với nhau, khi đó dù tách chúng ở khoảng cách xa xôi cở nào chăng nữa thì khi  họ làm cho 1 photon nào đó thây đổi trạng thái thì ngay lập tức các hạt photon còn lại thây đổi  theo, nghĩa là có một đầu vào biến thiên và đầu ra biến thiên theo. như vậy còn một đối tượng thứ 3 cố định này nằm ở đâu nó là thứ gì. mà dù các photon này có cách xa cở nào cũng không ảnh hưởng đến tốc độ truyền trạng thái của photon này đến photon kia phải chăng nó là cái mà nhà Phật gọi là bản thể của vũ trụ: nó không có hình tướng nên nó không bị giới hạn về không gian, thời gian, nhưng mọi hiện tượng đều không nằm ngoài nó và mọi hiện tượng đều xuất phát từ nó.

Như một phát biểu của ngài Lục Tổ Huệ Năng: “Không ngờ Tự Tánh vốn không dao động (nên nó là vô hình),Không ngờ Tự Tánh vốn không sanh diệt (không bị giới hạn về không gian, thời gian), Không ngờ Tự Tánh muôn sanh vạn Pháp, Không ngờ Tự Tánh vốn tự thanh tịnh, Không ngờ Tự Tánh vốn tự đầy đủ. (Xem ứng dụng vướng víu lượng tử xin nhấn tại đây)

Con lắc cảm xạ, Khái niệm Tiềm Thức và Hiện Tượng Thông Tin

Đằng sau cái thế giới vật chất của sự ngẫu nhiên, may rủi này là một thế giới thông tin có nhân có quả có định mệnh nơi mà các nhà tiên tri có thể thấy được quá khứ và vị lai.

Để biết nguy ên lý hoạt động của con lắc cảm xạ vui lòng truy cập tại đường link youtube sau:

Lúc Phật còn tại thế, có ai hướng về Phật thưa hỏi những vấn đề họ nghĩ không ra, Phật liền lập tức đáp ứng, không phải suy nghĩ chút nào. Đó gọi là “Bát Nhã vô tri, vô sở bất tri” (Bát Nhã không biết, nhưng không gì chẳng biết)

Tiến sĩ hew len nói với tôi. mọi hiện tượng bên ngoài kia đều biết hết. ông nói với tôi. cái bàn biết, cái ghế biết. trần nhà biết, sàn nhà biết. mà bức tường cũng biết. hoa cỏ cây cối ngoài kia thảy đều biết. chúng ta khởi tâm động niệm chúng đều biết tất cả. bạn có thể giấu được ai chứ. việc này thông qua thực nghiệm khoa học. tiến sĩ hew len, mấy năm gần đây. ông có lẽ cũng gần 70 tuổi tồi. ông trị bệnh cho người khắp nơi trên thế giới. giảng giải nguyên lý trị bệnh này. đó ko phải giả. hoàn toàn là thật, là sự thật (HT Tịnh Không)

Trong kinh đưa ra ví dụ nhất trần, một vi trần. Nhất sự, một sự việc, bất cứ một sự việc nào. Trong một sự việc có thể nhìn thấy toàn thể pháp giới. Trong một vi trần có thể nhìn thấy bất cứ một sự việc nào. Cho nên người minh tâm kiến tánh sẽ thấy được, thấy được chân tướng sự thật.


Tâm của chúng ta phải tốt, một niệm bất thiện cũng châu biến pháp giới, đừng tưởng rằng người khác không biết, người biết được nhiều vô số, chẳng có ai là không biết, cho nên không thể có ý niệm bất thiện, không thể có ngôn từ bất thiện, mình phải nghiêm chỉnh tu tập.
Thế, xuất thế gian tất cả các pháp bạn đi hỏi Ngài, Ngài không có cái nào không biết, đây là người kiến tánh. Tại sao? tất cả các pháp là từ trong Tự Tánh mà ra, Tự Tánh là năng sanh, tất cả các pháp là sở sanh, nếu đã “minh tâm kiến tánh” rồi làm gì có cái đạo lý không biết? không có cái gì không biết..! Phật pháp hoàn toàn thông đạt, pháp thế gian cũng hoàn toàn thông đạt, đây là khai ngộ thật sự.

Trước khi A lại da hay nghiệp tướng hiện ra hiện tượng vật chất,  có một hiện tượng nữa xuất hiện đó là hiện tượng thông tin tại đây thông tin được kết hợp và chuyển biến,  trong tam tế tướng gọi nó là phần chuyển tướng, và các nhà khoa học đã dùng 2 chữ tiềm thức để đặt tên cho nó.

Chân tâm, Bổn Tánh, Tự Tánh, Bản Thể, Chân Như, Thường Tịch Quang, Niết Bàn, Linh Minh Trạm Tịch, Tánh Viên Giác, Bản Giác, Pháp Tánh, Thật Tướng, Bản Lai Diện Mục, Như Lai Tạng,Bát Nhã, Chơn Không, Vô Cấu Bạch Tịnh Thức, Pháp Thân,  Tát Bà Nhược Hải, Diệu Pháp….

Trong kinh Phật ta gặp rất nhiều các định nghĩa về nó: Trong kinh Hoa Nghiêm thì gọi nó là “tự tánh thanh tịnh viên minh thể” đặc biệt với một câu nói “nhất trần châu biến pháp giới”, nhất trần là một hạt vi trần một sự thây đổi của nó có thể châu biến pháp giới. tốc độ này, không thể nói tốc độ, nó không có tốc độ cho nên nó châu biến, có tốc độ thì nó có thời gian, không có tốc độ thì không có thời gian, đó chính là châu biến (HT Tịnh Không) nên bất kỳ ở khoảng cách nào đối tượng có sự liên kết với nó tức thời liền nhận được.  Chúng sanh có cảm liền có ứng, cảm ứng đạo giao nan tư nghì. Hay là câu này :” duy tâm sở hiện, duy thức sở biến” tâm ở đây là chân tâm là bản thể. Hoặc các kinh về Tịnh Độ thì gọi nó là Thường Tịch Quang. Tịch mà chiếu, chiếu mà tịch. Hay trong kinh Pháp Hoa: Chân Tâm mầu nhiệm (Diệu Pháp) và cũng là Linh Giác căn bản (bản giác). Chân Tâm mầu nhiệm này là bản tánh chân thường, là bản thể bình đẳng của tất cả thánh nhân và phàm phu, của tất cả pháp giới. Phật và chúng sanh từ xưa đến nay đều đồng một thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm này. Phật là người đã ngộ được thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm và chúng sanh là người đã mê lầm thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm. Chúng sanh ngộ được thể tánh Chân Tâm mầu nhiệm này thì thọ dụng được bốn đức Niết Bàn (Chân Thường, Chân Lạc, Chân Ngã, Chân Tịnh). Chúng sanh nào còn mê lầm thể tánh chân tâm mầu nhiệm này thì chạy theo vọng cảnh điên đảo nên bị sinh tử luân hồi. Hay trong kinh Thủ Lăng Nghiêm: “Các Ngươi phải biết, cái tâm thể Bản Giác của mười phương chúng sanh vốn viên mãn Diệu Minh, cùng với mười phương chư Phật chẳng hai chẳng khác, vì do vọng tưởng của các ngươi mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm, từ đó sanh ra si ái, si ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không, sự mê chấp tiến hóa không ngừng, nên sanh ra thế giới, vậy thì mười phương vô số quốc độ đều do vọng tưởng kiến lập. Phải biết: Hư không sanh khởi trong tâm các Ngươi như đám mây ở giữa hư không, huống là các thế giới đều ở trong hư không”. Hoặc trong kinh Viên Giác: tánh hư không thường trụ chẳng động. Trong Như Lai Tạng vốn chẳng có sự sanh diệt nên chẳng có sự tri kiến sanh diệt trong đó, cũng như pháp giới tánh, rốt ráo viên mãn đầy khắp mười phương không gian và thời gian, ấy mới gọi là nhân địa phát tâm theo chánh pháp, tu hành theo chánh hạnh. như kinh Kim Cang có nói “Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh, Như sương cũng như chớp,Nên quán sát như vậy. Và nhiều kinh Đại Thừa khác như bộ Bát Nhã 600 quyển, kinh Duy Ma Cật, kinh Phạm Võng,  kinh Đại Bảo Tích, kinh Đại Bát Niết Bàn …


Bản chất của các lực cơ bản trong tự nhiên là do đâu

Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm: “Vì do vọng tưởng của các ngươi mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm, từ đó sanh ra si ái, si ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không, sự mê chấp tiến hóa không ngừng, nên sanh ra thế giới, vậy thì mười phương vô số quốc độ đều do vọng tưởng kiến lập”. Cái “mê chấp đạo lý” ở đây là gì: Ta trích lại một câu nói ở trang trước:  Một cách ước định, những dây năng lượng này có thể phân chia và kết hợp, chúng xuất hiện như những hạt phát xạ và hấp thụ những hạt khác, dẫn đến các lực tương tác đã biết giữa các hạt. (cũng chính là các lực cơ bản trong tự nhiên). Lý thuyết dây: Là một lý thuyết mô tả mọi lực cơ bản trong tự nhiên đã biết (lực hấp dẫn, lực điện từ, lực yếu và mạnh),  và vật chất (quark và lepton) trong một hệ thống toán học hoàn toàn. Nghĩa là chúng ta mê chấp cái quy luật biến hóa chặt chẽ của toán học (chính là cái đạo lý hay luật nhân quả) Và rồi chúng ta phải chịu tác động bởi những quy luật đó. Nên Phật Giáo có nói nếu buông được cái chấp trước, phân biệt, vọng tưởng này thì liền thoát khỏi mười pháp giới chứng được nhất chân pháp giới, phá được một phần vô minh chứng được một phần pháp thân.

Trong một bức thư Einstein gửi cho con gái có nói rằng: Sau những sai lầm của nhân loại trong việc sử dụng và điều khiển những nguồn lực trong vũ trụ dẫn tới phản tác dụng, đã đến lúc chúng ta phải nuôi dưỡng mình bằng một loại năng lượng khác…Có một loại Lực vô cùng mạnh mẽ, mà cho tới nay khoa học cũng không thể tìm ra lời giải đáp chính xác dành cho nó. Lực này bao gồm và chi phối tất cả những lực khác. Nó thậm chí còn đứng sau bất kỳ hiện tượng nào được vận hành bởi vũ trụ mà chúng ta vẫn chưa thể lí giải. Đó chính là TÌNH YÊU….
Tính yêu chính là Thượng đế, và Thượng đế cũng chính là Tình yêu.
“Khi cha đưa ra Thuyết tương đối, rất ít người có thể hiểu được. Tương tự như vậy, điều mà cha sắp tiết lộ với nhân loại bây giờ đây rồi cũng sẽ vấp phải những hiểu lầm và thành kiến của mọi người…..
Khi những nhà khoa học tìm kiếm một học thuyết chung cho vũ trụ, họ đã bỏ sót Lực vô hình nhưng mạnh mẽ nhất này.(phải chăng là niệm lực). Thứ lực này giải thích cho tất cả mọi điều và mang ý nghĩa đến cho cuộc sống.

Vì chưa thấy được Tự Tánh nên ông đã ngộ nhận về sức mạnh của “Tình Yêu”. Thật ra “Tình Yêu” mà Einstein đề cập là một sự mê chấp Đạo Lý mà sanh ra Si Ái như trích đoạn kinh Thủ Lăng Nghiêm ở trên. Cái Si Ái căn nguyên cũng là do mê vọng mà sanh ra thì làm gì có mạnh hay yếu. Einstein có cái ngộ nhận này vì ngài không biết rằng bạn vốn từ Tự Tánh biến hiện ra và bạn không nằm ngoài Tự Tánh, không hai đối với Tự Tánh. Nên Bạn muốn điều gì thì sẽ được điều đó vì bạn vốn là Tự Tánh mà. Nếu bạn mê chấp đạo lý thì nó hiện không gian, thời gian ra cho bạn. Và rồi bạn quên đi mất Tự Tánh của mình nên không biết rằng mình có “trí huệ và đức tướng Như Lai, do vì vọng tưởng chấp trước nên không thể chứng đắc” (Trích Kinh Hoa Nghiêm). Như trong kinh Kim Cang Phật có nói một câu là “Nếu ai đó nói rằng ta có thuyết Pháp tức là phỉ báng ta, là chẳng hiểu được ý ta muốn nói”. Ý ngài muốn nói điều gì có phải là Ngài muốn nói rằng là Ngài không hề có thuyết Pháp mà mọi thứ đều là từ Tự Tánh biểu hiện ra và Ngài chỉ là người khởi động nó mà thôi. Ta có thể ví Tự Tánh giống như một cổ máy phi phàm dù bạn có cao lùn, thấp nhỏ đẹp xấu thế nào nếu bạn biết cái nút điều khiển nó ở đâu chỉ cần một nút nhấn thì nó hoạt động, như vậy công năng mà nó biểu hiện ra chính là nhờ bạn nhưng không phải là của bạn mà là của cái máy mà cái máy này là của tất cả chúng sanh ai cũng có quyền sử dụng nó. Như trong kinh Pháp Hoa Phật có nói là “chúng sanh có một viên ngọc như ý nằm trong chéo áo mà không biết“. Hay như Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ có viết “Giác tánh sẵn có ấy chẳng từ bên ngoài đến, chẳng phải do tu mà có nên bảo là ‘chẳng do tu mà sanh’,vì nó chính là chỗ chẳng thể tu để đạt đến nổi”.


Giáo Lý Hoa Nghiêm Và Thế Giới Quan Của Các Nhà Khoa Học Ngày Nay

Thế giới Hoa Tạng tổng cộng có 20 tầng, giống như một tòa cao ốc có hai mươi tầng. Đó là nói theo chiều dọc, nói theo chiều ngang thì rộng lớn vô biên và nằm trên một thế giới tên là Phổ Chiếu Thập Phương Sí Nhiên Bảo Quang Minh. Thế giới Ta Bà của chúng ta nằm ở biển Vô Biên Diệu Hoa Quang, Phía đông biển hương thủy Vô Biên Diệu Hoa Quang đó, lại có biển hương thủy tên là Ly Cấu Diễm Tạng, Và những biển khác.   Thế giới Cực lạc cùng thế giới Ta Bà của chúng ta đều ở tầng thứ 13. Một tầng chính là một đại tinh hệ. Cho nên từ kinh Hoa Nghiêm có thể khẳng định, hệ ngân hà của chúng ta trong thái không cũng chỉ là một điểm nhỏ. Nó nhiễu quanh một tinh hệ rất lớn đang chuyển động mà khoa học gia hiện nay vẫn chưa phát hiện. Vậy 20 tầng thế giới Hoa Tạng, kinh gọi là thế giới hải. Ngay trong vũ trụ vô cùng vô tận, số lượng rất nhiều.

Về không gian dung thông vô ngại
Bao nhiêu vi trần trong thế giới
Trong mỗi vi trần thấy các cõi
Bửu quang hiện Phật vô lượng số

Cảnh giới tự tại của Như Lai
Vô lượng vô số núi Tu Di
Ðều đem để vào một sợi lông,
Một thế giới để vào tất cả
Tất cả thế giới để vào một,
Thể tướng thế giới vẫn như cũ
Vô đẳng vô lượng đều cùng khắp.
Trong một chân lông đều thấy rõ
Vô số vô lượng chư Như Lai
Tất cả chân lông đều thế cả
Tôi nay kính lạy tất cả Phật
Về thời gian dung thông vô ngại
Kiếp quá khứ để hiện, vị lai,
Kiếp vị lai để quá, hiện tại,
Ba đời nhiều kiếp là một niệm
Chẳng phải dài vắn: hạnh giải thoát.
Tôi hay thâm nhập đời vị lai
Tất cả kiếp thâu làm một niệm,
Hết thảy những kiếp trong ba đời
Làm khoảng một niệm tôi đều nhập.
Về không gian và thời gian dung thông vô ngại
Khắp hết mười phương các cõi nước
Mỗi đầu lông đủ có ba đời
Phật cùng quốc độ số vô lượng
Tôi khắp tu hành trải trần kiếp.
Trong một niệm tôi thấy ba đời
Tất cả các đấng Nhơn Sư Tử
Cũng thường vào trong cảnh giới Phật
Như huyễn, giải thoát và oai lực
Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả

Pháp môn đặc biệt của 10 phương chư Phật

Khi bạn khởi lên một niệm mê thì bạn sẽ quên đi cái Tự Tánh này. Khi đã bị mê rồi thì càng lúc càng sâu và dần dần trở thành một kẻ lang thang cùng tử lúc nào không biết, như hiện tại bây giờ lúc nào chúng ta cũng bận rộn lo lắng về miếng cơm, manh áo cảm thấy nó như là một điều không thể tránh khỏi của cuộc sống nên ít ai mà tin rằng có một thế giới Cực Lạc con người không cần làm mà vẫn có ăn thậm chí không cần ăn mà vẫn tồn tại nên ở đó rất yên bình không như ở đây nhiều khi vì miếng ăn mà chúng ta bất chấp luân thường đạo lý làm hại đến những chúng sanh khác,mà bạn không biết rằng bạn là do Tự Tánh biến hiện ra những chúng sanh khác cũng là từ Tự Tánh biến hiện ra nếu bạn hại những chúng sanh khác là bạn đang tác động tiêu cực vào Tự Tánh của chính mình. Nếu điều bạn muốn không tác hại đến chúng sanh nào nghĩa là không có tác động tiêu cực vào Tự Tánh của mình thì Tự Tánh của bạn cũng sẽ không gây ra điều gì tai hại cho bạn, và ngược lại nếu điều bạn muốn có lại gây ra tác hại gì đó đến chúng sanh khác có nghĩa là bạn đã có một tác động tiêu cực vào Tự Tánh của mình thì không sớm thì muộn bạn cũng sẽ nhận lại được tác động đó từ Tự Tánh của mình đó là nhân quả báo ứng tơ hào không sai, dù bạn có năng lực phi thường đến đâu cũng không thể so bì được với công năng biến hóa của Tự Tánh, dù bạn trốn ở chân trời gốc bể nào cũng không thoát khỏi nó nên nhà Phật có câu “Vạn pháp giai không, nhân quả bất không”.

HT Tịnh Không có nói: Thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là do tánh khởi mà sanh ra hiện tượng, nên ở đó con người thừa hưởng được năng lực của Tự Tánh trong 1 niệm có thể hiện thân khắp mười phương thế giới, tuổi thọ của họ bằng với tuổi thọ của Tự Tánh là vô lượng vô biên. Còn ở thế giới Ta Bà này do mê chấp vào cái đạo lý , mê chấp vào cái bản ngã nên mới có nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra mọi sự vật hiện tượng rồi phải chịu những quy luật biến hóa của nó, phải chịu sự thành, trụ, hoại, không-sanh, trụ, dị, diệt – sanh, lão, bệnh, tử. Muốn ở Ta Bà không bị luân hồi thì chỉ có những người minh tâm kiến tánh mới làm được chuyện đó. Nhưng vì chúng sanh mê muội không biết rằng “phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng“, cái bản ngã biết suy nghĩ, nói năng này sự thật  cũng chỉ là giả ngã không phải chân ngã, mấy ai nhận ra điều đó. Cái Tự Tánh vốn không có hình tướng thì lại là cái chân thật. Mấy ai có thể  hiểu được. Ngay cả Einstein cũng không tránh khỏi những ngộ nhận sai lầm. Nên nhiều người dày công tu hành nhưng cũng chỉ là làm chuyện trong mộng không ra khỏi được luân hồi, cái thấy cái hiểu đã sai lầm thì càng tu càng sai lệch, leo càng cao thì té càng đâu. Nhưng có một điểm đặc biệt là Tự Tánh vốn không phân biệt một ai dù bạn ở cõi uế độ nào đi nữa dù bạn ngu dốt hay thông mình, già yếu hay khỏe mạnh, còn nhỏ hay đã lớn nếu bạn muốn điều gì thì đều sẽ được Tự Tánh đáp ứng lại. Nếu điều bạn muốn không tác hại đến Tự Tánh thì tương lai Tự Tánh cũng không gây tác hại gì đến bạn và ngược lại nếu điều bạn muốn có gây tác hại đến Tự Tánh thì tương lai bạn sẽ nhận lại y chang như vậy. Biết được nguyên lý này nên Đức Phật A Di Đà mới kiến lập nên thế giới Tây Phương Cực Lạc thật trang nghiêm tốt đẹp để phát khởi lên lòng ham muốn của chúng sanh ở 10 phương thế giới. Lòng ham muốn này không gây tác hại đến một ai nên chỉ cần bạn Tin chân thành, Nguyện thiết tha thì Tự Tánh của bạn sẽ đáp ứng lại cho bạn mà không cần một yêu cầu đòi hỏi nào và không có những phản hồi tiêu cực nào. Chỉ cần bạn một lòng một dạ nhất hướng mong cầu không chạy theo những cám dỗ trần tục ở trên thế gian này nữa thì sự vãng sanh của bạn nắm chắc phần trong tay. Còn chuyện muốn ở cõi Ta Bà này tu tập giới, định, tuệ nếu không đạt tới minh tâm kiến tánh thì bạn sanh tử như thế nào thì vẫn phải sanh tử như thế đó, không thể ra khỏi luân hồi được.


Nên pháp môn Tịnh Độ còn gọi là pháp môn hoành siêu tam giới, hoành nghĩa là ngang. giống như con sâu trong ống tre nếu muốn ra khỏi ống tre nó sẽ có 2 đường một đường là theo chiều dọc của ống tre có nghĩa là nó phải đục qua hết các mắt bên trong ống rồi mới ra ngoài được, nhưng cũng có một cách nữa là nó đục ngang ống tre là đục qua cái thành của ống tre mà nó đang tại đó. Cũng giống như vậy nếu tu những pháp môn khác người tu phải tu thập thiện nghiệp vượt lên cõi trời, rồi tu thiền định để lên cõi trời sắc giới, rồi phải tu tứ niệm xứ quán khổ, không , vô thường, vô ngã để vượt qua khỏi cõi trời vô sắc giới, rồi buông xã bản ngã, ngã chấp mới tới quả vị A La Hán, rồi buông xã tập khí của chấp trước mới tới được quả vị duyên giác, muốn vượt qua quả vị duyên giác phải buông bỏ phân biệt là sự mê chấp về đạo lý gọi là pháp chấp, rồi tiếp tục buông bỏ tập khí phân biệt thì ra khỏi 10 pháp giới. Tới đây thì không còn buông xã điều gì nữa nhưng phải trải qua 3 đại A tăng kỳ kiếp mới có thể chứng được quả vị Phật cứu cánh viên mãn.

Còn tu pháp môn tịnh độ bạn chỉ cần thây đổi những ham muốn trần tục đầy khổ lụy của thế gian này thành nguyện lực cầu sanh sang thế giới Tây Phương Cực Lạc cũng là thoát ra khỏi được lục đạo luân hồi của thế giới Ta Bà này . Nhưng khi sống ở thế gian này con người thường không có được những điều mình muốn, nên thường không ai tin rằng khi bạn muốn điều gì thì Tự Tánh sẽ đáp ứng lại cho bạn điều đó. Và khi nghe chư Tổ, Đại Đức nói rằng “vãng sanh được hay không là ở nơi có Tín, Nguyện hay không” bạn cũng vẫn không thể tin được. Nhưng nếu bạn để ý tới câu này “bạn vốn từ Tự Tánh biến hiện ra và bạn không nằm ngoài Tự Tánh, không hai đối với Tự Tánh. Nên Bạn muốn điều gì thì sẽ được điều đó vì bạn vốn là Tự Tánh mà. Nếu bạn mê chấp đạo lý thì nó hiện không gian, thời gian ra cho bạn” Ngay cả hư không, vũ trụ này Tự Tánh còn phải tạo ra cho bạn huống chi là những ước nguyện khác. Điều này chỉ có Phật và các vị Pháp Thân Đại Sỹ mới biết được còn lại đều không thể dễ dàng tin vào điều đó. Nhưng tại sao thực tế chúng ta lại thấy chẳng mấy ai có được điều mình muốn? Nếu bạn để ý tiếp câu này: “Nếu điều bạn muốn không gây tác hại đến chúng sanh nào nghĩa là không có tác động tiêu cực vào Tự Tánh của mình thì Tự Tánh của bạn cũng sẽ không gây ra điều gì tai hại cho bạn, và ngược lại nếu điều bạn muốn có lại gây ra tác hại gì đó đến chúng sanh khác có nghĩa là bạn đã có một tác động tiêu cực vào Tự Tánh của mình thì không sớm thì muộn bạn cũng sẽ nhận lại được tác động đó từ Tự Tánh của mình” xin bạn hãy quan sát trong cuộc sống có phải đa số con người ta vì tham, sân, si mà bất chấp luân thường đạo lý đã gây phương hại đến không biết bao nhiêu chúng sanh, đến khi quả báo trổ ra thì lại than trời trách đất sao cuộc đời không như mình mong muốn. Dần dần bạn đã quên mất sức mạnh của lòng mong muốn lớn mạnh tới mức nào. Nên sai lầm thứ nhất là mọi người thường không dụng công vào Tín, Nguyện mà dụng nơi hành trì niệm Phật để sanh Định, khai huệ nhiều hơn là niệm Phật để tiêu trừ những ham muốn trần tục ở thế gian này giúp cho bạn một lòng một hướng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Sai lầm thứ hai là họ xem thường cái năng lực của sự ham muốn nên không cẩn thận đối với những điều ham muốn của thế tục rồi vô tư chạy theo nó mà không biết là mình đã đổ sông đổ biển cái công sức niệm Phật của mình cho nên dù bạn có tinh tấn quyết tâm niệm Phật thì cũng giống như bạn phơi nắng dưới một cái vòi nước thì bao giờ áo bạn mới khô. Nên tại sao ta thấy có nhiều người tuy siêng năng hành trì niệm Phật nhưng vẫn không được vãng sanh, còn những người tuy bận rộn không có thời gian hành trì nhưng họ lại được vãng sanh đó là vì họ biết dừng lại trước những ham muốn của thế gian chỉ một lòng một dạ chuyên tâm nhất ý cầu vãng sanh. Nên pháp môn Tịnh Độ khác với những pháp môn thông thường khác là họ đặt giới, định, huệ lên hàng đầu, còn pháp môn Tịnh Độ lại đặt Tín, Nguyên lên hàng đầu. Tuy dễ dàng hơn những pháp môn thông thường rất nhiều nhưng nếu không hiểu rõ ràng thì cũng không thể làm được. Nên ngày nay 1 vạn người tu mà chỉ có 1, 2 người vãng sanh thật là điều đáng tiếc. Trong kinh Niệm Phật Ba La Mật có nói rằng “Trong quá khứ vô lượng vô biên na do tha kiếp, các đức Phật Như-Lai đã dùng hằng hà sa phương tiện, thí dụ, ngôn thuyết, để diễn bày vô số pháp môn tu tập, đưa hết thảy chúng sanh vào Cảnh Giới Giải Thoát Tối Thượng Nhứt Thừa. Nhưng duy chỉ có niệm Phật là cứu cánh đệ nhất.Trong hiện tại cũng có vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật ở mười phương cũng đang thuyết giảng giáo nghĩa Niệm Phật nầy để rộng cứu vớt chúng sanh. Trong đời vị lai, tất cả chư Phật nếu muốn cứu vớt hết mọi chúng sanh, thì cũng phải do nơi pháp Niệm Phật này”.

Làm Sao Tuổi Trẻ Ngày Nay Có Thể Dừng Lại Trước Những Ham Muốn Trần Tục ở thế gian

Ngày nay khoa học đã bắt đầu áp dụng được một số hiệu ứng của cơ học lượng tử vào đời sống con người. Mọi nhu cầu dục vọng của con người càng lúc càng được đáp ứng một cách dễ dàng hơn, có tiền gần như là có tất cả nên khiến con người càng ngày càng nhanh sa đọa hơn. Ngược lại, nếu ai biết vận dụng những hiệu ứng lượng tử này để làm sáng tỏ những tri kiến của Đức Phật thì nó lại có thể giúp chúng ta dừng lại được trước những ham muốn trần tục trong thế gian đầy cám dỗ này.

Loại thứ nhất của hiệu ứng lượng tử đó là lượng tử hóa các đại lượng vật lý nhất định. Là trong thế giới thông thường mà giác quan chúng ta nắm bắt được thì mọi giá trị đo lường mà ta khảo sát đều là có một sự biến thiên liên tục như khi lái xe ta không thể tăng tốc từ vận tốc 20 đến 100 liền mà phải biến đổi từ từ là từ 20,30…90..rồi tới 100. Còn trong thế giới vi mô lại khác có những giá trị khảo sát mà nó đột ngột nhảy vọt không có các giá trị nằm ở giữa. Điều này giúp các nhà khoa học tạo ra được các thiết bị điều khiển như transistor chỉ với một biến thiên điện thế rất nhỏ có thể khiến dòng điện qua transistor từ 0 có thể tăng lên đột ngột, việc thông tin thây đổi đột ngột như vậy giúp việc tính toán trở nên cực kỳ nhanh lẹ và chính xác. Đây là một công nghệ đột phá của máy vi tính. Trong kinh Phật ngài cũng đã có nhắc đến hiện tượng này: “Trong tâm phàm phu khởi ý niệm, trong một niệm này có mấy niệm? Như vậy mới biết, ý niệm này rất thô. Trong ý niệm này, có bao nhiêu ý niệm vi tế? Có mấy tướng, có mấy thức?Và Bồ Tát Di Lặc trả lời trong 1s có khoảng 1600 ngàn tỷ niệm vi tế. Đây là một loại tướng tương tợ tiếp nối, không thể nói là tương tục. Tương tục thì niệm trước phải giống với niệm sau, đó là tương tợ, nó không giống nhau, niệm trước không phải là niệm sau, niệm sau cũng không phải là niệm trước, mà là tướng tương tợ tiếp nối” (HT Tịnh Không). Như ta thấy trong thế giới thông thường như cái xe ta đang chạy lúc trước khi tăng tốc và sau khi tăng tốc vẫn là chiếc xe đó. Nhưng trong thế giới vi mô thì lại khác mọi thứ đều là biến hiện cái sau không phải là cái trước, cái trước không phải là cái sau nên sinh ra hiện tượng rời rạc hay gián đoạn nên khi khảo sát vào thế giới vi mô các nhà khoa học đã đặt nó cái tên là cơ học lượng tử. lượng trong nghĩa số lượng là một khoảng nào đó, tử là nhỏ bé. Xuất hiện cái hiện tượng gián đoạn, rời rạc này thực chất là do sự biến hiện mà ra cái trước biến mất và cái sau liền sinh ra với một giá trị khác với cái trước chỉ có lý do này mới có thể giải thích được sự thây đổi đột ngột của các đơn vị khảo sát trong cơ học lượng tử, cái khoảng hở biến rồi hiện này rất là nhỏ cở khoảng 1600 ngàn tỷ lần/s nên gọi là lượng tử. như trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có viết “Các tướng huyễn hóa, chính ngay nơi chỗ nó sanh ra, tùy ở đó mà diệt tận, tánh của nó thật là Diệu Giác Minh Thể“. Ngay chỗ sanh ra, cái chỗ đó là không, không có thứ gì, từ trong không nó liền sanh ra có, tuy là sanh ra có liền lập tức quay về lại với không (HT Tịnh Không). Cái khoảng biến hiện hay cái khoảng bị gián đoạn này vô cùng nhỏ bé mà con người khó mà cảm nhận được nên gọi là lượng tử, và vì không nhận ra được nó nên ta thấy mọi sự vật hiện tượng dường như rất là chắc thật mà không thấy được sự huyễn hóa của nó. Điều này đã đưa ta đến một ý niệm quan trọng của Phật giáo trong bài kệ sau của Kinh Kim Cang “Tất cả pháp hữu vi như mộng, huyễn, bào, ảnh. Như sương cũng như chớp, hãy quán chiếu như thế”. Để dễ hiểu HT Tịnh Không dùng cái ví dụ về cuộn phim nhựa, tấm phim trước và tấm phim sau hoàn toàn khác nhau, nhưng khi chỉ cần quay với tốc độ 24 hình/s là đã đánh lừa được con mắt của người xem, người xem cảm nhận rằng cái đối tượng đang chuyển động này lúc trước và sau đó vẫn là một người, từ đó mà bị lôi cuốn vào trong nhân vật này.Nên khi quan sát được tất cả pháp như mộng huyễn bọt ảnh sẽ giúp chúng ta dễ dàng buông xã hơn rất nhiều.

Một hiệu ứng nữa là nguyên lý bất định : ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác. Với công thức khá nổi tiếng là {\displaystyle (\Delta \ x)(\Delta \ P_{x})\geq \ {\frac {h}{4\pi \ }}} . Hay nói dễ hiểu hơn là khi nghiên cứu sâu vào thế giới vi mô các nhà khoa học nhận thấy rằng các hạt không phải cứng chắc, hay ổn định như mọi người nghĩ mà nó luôn biến hoá và sóng động với tốc độ biến hóa rất lớn, nhưng vì nó quá nhỏ nên mắt thường chúng ta không thể nhìn ra nó. Và ngược lại ở những vật thể lớn ta rất dễ dàng nhận thấy, nhận biết nhưng ngược lại sự sóng động, sự biến hóa của nó rất là nhỏ tới mức chúng ta không thể cảm nhận được. Giả sử  ta có hòn đá nặng 100 g, và  giữ nó không cho nó cựa cậy quá giới hạn 1 micrômét. Theo công thức của nguyên lý bất định thì hòn đá sẽ cựa cậy với vận tốc là 10^-25 cm/s — một vận tốc quá nhỏ để ta có thể cảm thấy được. Như vậy cái biến hóa, chuyển biến này luôn có mặt trong mọi sự vật hiện tượng mà nhà Phật gọi nó là Thức hay gọi là chuyển tướng điều này thể hiện khá rõ tại câu Kinh này: “Trong tâm phàm phu khởi ý niệm, trong một niệm này có mấy niệm? Như vậy mới biết, ý niệm này rất thô. Trong ý niệm này, có bao nhiêu ý niệm vi tế? Có mấy tướng, có mấy thức? “niệm niệm thành hình, hình đều có thức (thức nghĩa sự kết hợp chuyển biến)”. Đối chiếu với tam tế tướng ta thấy “Thức” tương đương với phần chuyển tướng đó là khả năng kết hợp và chuyển biến những sóng động mà nó tiếp nhận. Vì tốc độ chuyển biến rất nhanh 1600 ngàn tỷ lần trên giây, phàm phu khó mà cảm nhận được sự sóng động này nên sinh ra những hình bóng về một đối tượng nào đó nó chính là phần “hình” là phần Hiện Tướng trong tam tế tướng. Chẳng hạn như sóng nước, khi quan sát những ngọn sóng này ta cảm giác như có những cơn sóng đang di chuyển từ điểm này đến điểm kia trong không gian nhưng thực chất là không có ngọn sóng nào đang di chuyển cả mà chỉ là sự dao động của một điểm nào đó trên bề mặt của mặt nước nghĩa là nó có thây đổi theo thời gian. Nghĩa là nhìn sơ qua ta tưởng nó di chuyển như tính chất của hạt như dạng vật thể,  nhưng thực chất nó là do sự chuyển biến, sự thây đổi biên độ của một điểm trên bề mặt của mặt nước. Và khi gặp một ngọn sóng thứ 2 truyền tới thì xảy ra hiện tượng giao thoa “Sự giao thoa của các sóng trên thực chất tuân theo nguyên lý chồng chập sóng mà ở đây chính là sự cộng gộp của các dao động. Tại mỗi điểm trong không gian nơi có sự gặp nhau của các sóng, dao động của môi trường sẽ chính là dao động tổng hợp của các dao động thành phần từ các sóng tới riêng biệt, mà nói theo ngôn ngữ của vật lý sóng sẽ là tổng của các véctơ sóng. Nhờ sự tổng cộng dao động này mà trong không gian có thể tạo ra các điểm có dao động được tăng cường (khi các sóng thành phần đồng pha) hoặc bị dập tắt (khi các sóng thành phần có pha ngược nhau) tùy thuộc vào tương quan pha giữa các sóng”. Từ hiện tượng này ta có thể kết luận rằng khi xảy ra hiện tượng giao thoa thì chứng tỏ có sự lan truyền dưới dạng sóng. Nghĩa là có sự kết hợp, sự hòa nhập vào nhau sinh ra sự chuyển biến là tăng cường hoặc tiêu trừ lẫn nhau

Thí nghiệm khe Young, được thực hiện lần đầu bởi Thomas Young vào khoảng năm 1805, là một thí nghiệm quang học chiếu ánh sáng qua hai khe hẹp và quan sát vân giao thoa trên màn ảnh nằm sau. Các vân giao thoa cho thấy ánh sáng lan truyền như các sóng, để dễ hiểu ta ví dụ sóng mặt nước chẳng hạn khi quan sát những ngọn sóng này ta cảm giác như nó đang di chuyển từ điểm này đến điểm kia nhưng thực chất là không có ngọn sóng nào đang di chuyển cả mà chỉ là sự thây đổi biên độ của ngọn sóng đó theo thời gian mà thôi (theo định nghĩa của Phật Giáo thì “sự thây đổi trạng thái tại một điểm nào đó theo thời gian được gọi là thức”) đây là nguyên nhân chính sinh ra hiện tượng giao thoa, và ngược lại khi xuất hiện hiện tượng giao thoa ta có thể khẳng định sự di chuyển của nó thực chất là sự lan truyền như dạng sóng. Do đó thí nghiệm này đã chứng tỏ tính chất sóng của ánh sáng, củng cố lý thuyết sóng ánh sáng Huygens. Thí nghiệm khe Young cũng có thể được thực hiện với các chùm electron hay  nguyên tử để cho thấy lưỡng tính sóng hạt của chúng. Điều này chứng tỏ sự di chuyển của các hạt vật chất cũng giống như sự lan truyền của sóng vậy, với phương trình sóng Schrödinger .  phuong-trinh-song     Thí nghiệm này đã chứng tỏ tính chất sóng của những đối tượng mà ta tưởng là hạt như là các hạt electron cũng không phải hoàn toàn là hạt. Và như trong lý thuyết dây họ có nói rằng “Các dây này có thể rung động trong những mode khác nhau ( tương tự như một dây ghi-ta có thể sinh ra các note nhạc khác nhau),với mỗi mode xuất hiện như một hạt ( electron, photon…)”. Giống như sóng nước vậy tùy vào biên độ và tần số của sóng nước mà ta có được những ngọn sóng di chuyển nhanh hay chậm, cao hay thấp. Như vậy cái hình dáng và tốc độ của một ngọn sóng lại tùy thuộc vào biên độ và tần số của con sóng đó. Cái biên độ và tần số là thông số đại diện cho sự biến hóa theo thời gian của một điểm nào đó trên mặt nước, sự biến hóa và thây đổi theo thời gian này gần giống với phần chuyển tướng là phần “thức”, còn cái ngọn sóng có hình dáng cao hay thấp đang di chuyển trong không gian là đặc tính của hạt là nguyên nhân tạo ra một aỏ tưởng về vật chất. Mà sự di chuyển của một ngọn sóng từ chổ này đến chổ kia là một ngộ nhận thực chất không có ngọn sóng nào đang di chuyển cả. Như trong kinh Vô Lượng Thọ Phật có nói rằng “Đức Như Lai kia, đến không chỗ đến, đi không chỗ đi, không sanh không diệt, không có quá hiện vị lai, chỉ có một nguyện độ sanh”. Cũng như câu nói “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Nghĩa là cái ý nghĩ rằng có tồn tại một ngọn sóng đang di chuyển trong không gian là do ta tưởng lầm như vậy chứ sự thật là không hề có cái nào như vậy hay có thể nói rằng nó là hư vọng. Như nền khoa học cổ điển họ đã có ngộ nhận về sự tồn tại những hạt cơ bản, cứng chắc, ổn định, tồn tại độc lập và có thể di chuyển trong không gian. Nhưng thực tế các nhà khoa học của nền khoa học cận đại đã khám phá ra rằng các hạt lan truyền như là sóng vậy nghĩa là không có đối tượng nào di chuyển trong không gian cả và “Sâu vào bên trong các hạt phân tử, còn có những thứ khác. Thứ khác này nhảy nhót trong các sợi năng lượng. Nó trông như một sợi dây dao động  đó là nơi bắt nguồn của lý thuyết dây”. Như vậy ta thấy mỗi một hạt vi trần đều có sự sóng động và chuyển biến ở bên trong hay có thể nói rằng nó có sự sống ở bên trong, nó có nhận biết, nó như một cơ thể sống vậy”. Điều này đã dẫn ta tới một khái niệm rất thú vị đó là khái niệm về tinh thần và vật chất , thức là đại diện cho phần tinh thần , còn phần hạt hay phần “hình tướng” là là căn nguyên sinh ra ý niệm về vật chất.  Từ đây, ta sẽ hiểu được tại sao Đức Phật nói rằng “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến, tất cả pháp đều từ tâm tưởng sanh”. Sở hiện ở đây chính là khởi tâm động niệm, “Thức” là sự kết hợp dẫn tới sự chuyển biến. Vì chuyển biến quá nhanh mà sinh ra hình bóng sự ngộ nhận này gọi là tưởng, sự tưởng lầm này gọi là ngã chấp có đối tượng này, có đối tượng kia, có ta có người. Những khái niệm đối tượng này đối tượng kia chỉ là những ảo giác là tưởng lầm mà ra nhưng vì không biết điều đó nó cứ tưởng thật có những đối tượng như vậy từ đó sinh ra sự chấp trước và bảo tồn những ý niệm này theo đó đặc tính kết hợp và chuyển biến càng chậm chạp dần thây vào đó là đặc tính bảo tồn và va chạm thể hiện càng lúc càng rõ hơn. Như chất rắn thì chắc chắn chấp ngã của nó sẽ mạnh hơn chất lỏng, và chất lỏng thì nặng hơn chất khí, chất khí thì nặng hơn âm thanh và âm thanh thì nặng hơn ánh sánh. Và như vậy vật chất là một khái niệm trừu tượng do chính phần tinh thần mê mất chân tâm, bản tánh của mình để rồi nhận lầm về sự tồn tại của một đối tượng nào đó rồi theo đó mà dần dần đánh mất đi đặc tính kết hợp và chuyến biến của mình, đó là nguyên nhân tại sao các vật thể càng lớn càng cứng chắc thì tính chất hạt thể hiện càng rõ tính chất sóng càng mờ nhạt. Tuỳ vào mức độ chấp trước, tuỳ vào sự ngộ nhận như thế nào mà sinh ra các loại hình thái, thể trạng khác nhau như ánh sáng, âm thanh, chất khí, chất lỏng, chẩt rắn. Với giác quan thông thường của loài người họ không thể nhận ra được điều đó vì thế mà hầu hết ai cũng nghĩ rằng nguyên tố căn bản của vạn sự vạn vật trong vũ trụ này là từ những hạt cơ bản cứng chắc kết hợp thành, từ cái ngộ nhận này đã khiến con người đi ngược lại với chân tướng sự thật thây vì con người ngày nay chú trọng vào việc chuyển hóa phần tinh thần họ lại tập trung vào việc cải tạo vật chất, nghiên cứu vật chất. Nghiên cứu tới cuối cùng thì các nhà lượng tử lực học mới vỡ lẽ ra rằng vật chất không hề có tồn tại, họ nói rằng vật chất là do phần tinh thần ngộ nhận mà thôi. Giống như trong xã hội loài người đoàn thể nào bị ảnh hưởng bởi tư tưởng vật chất càng nặng thì hình thức giải quyết vấn đề thường là bằng chiến tranh, đấu tranh gây ra sự tan thương mất mát ngược lại nếu đoàn thể nào ít bị ảnh hưởng bởi khái niệm vật chất thì họ có khả năng hoà nhập sống chan hoà với nhau, tuỳ vào mức độ chấp trước của ngã chấp khác nhau mà hình thành các hình thái xã hội các đoàn thể, các quốc gia, các ngành nghề khác nhau. Như ở thế giới Tây Phương Cực Lạc chỉ có một nghề duy nhất là giáo dục, chỉ có một quốc gia duy nhất, không có thủ tướng, vua, chúa mà chỉ có một vị giáo chủ duy nhất là Đức PhậtADi Đà. Có sự khác biệt này là do chúng sanh ở Tây Phương Cực Lạc không còntưởng lầm về cái thân này nữa họ không còn thấy ta và người, không còn thấy đối tượng này đối tượng kia nhờ vậy mà mọi thứ đều có thể hoà hợp chan hoà với nhau thành một thể. vật chất ở Thế Giới Tây Phương Cực Lạc cũng có thể biến hoá theo ý niệm của chúng sanh “Nước ấy thuận ý của mỗi chúng sanh…. Sóng vang ra vô lượng âm thanh vi diệu, nghe tiếng Phật, Pháp, Tăng hoặc tiếng ba la mật… tiếng cam lộ quán đảnh nhận lãnh địa vị… Ðược nghe các âm thanh như thế xong, tâm thanh tịnh không có các phân biệt, chánh chơn, bình đẳng, thành tựu thiện căn. Nghe được pháp nào cũng tương ứng với pháp. Muốn nghe pháp nào tai liền nghe thấy. Pháp chẳng muốn nghe, trọn chẳng nghe thấy, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển tâm a nậu đa la tam miệu tam Bồ Ðề”. Nước là vật chất vô tình, sao lại có được vô lượng diệu dụng đến thế, tùy nghi thích ứng căn cơ: muốn nghe liền được nghe. Nước lại có đầy đủ công đức chẳng thể nghĩ bàn như vầy: khiến cho người nghe trọn chẳng bị thoái chuyển! Rõ ràng là nhất chơn pháp giới: một hạt bụi, một mảy lông không thứ nào chẳng viên minh cụ đức, một thứ là chơn thì hết thảy thứ là chơn. Một mảy trần, một sợi lông không thứ nào chẳng là viên viên quả hải. Theo Hiển Mật Viên Thông, viên viên quả hải chính là biển thánh giác quả đức vô thượng viên mãn. Chúng sanh thế gian và khí thế gian đều thanh tịnh. Hữu tình, vô tình đều cùng thành Phật nên bảo: ‘Hết thảy đều thành Phật’. Một câu nói này bóc trần tâm tủy của Tam Tạng và mười hai bộ kinh, mở toang huyền chỉ của một ngàn bảy trăm công án trong nhà Thiền, bộc lộ thẳng thừng mật ý đại viên thắng huệ, đại viên mãn của Mật tông. Câu này chính là một pháp cú, chính là thanh tịnh cú, cũng có thể gọi theo nhà Thiền là mạt hậu cú (câu sau cùng hết).
Còn vật chất ở thế giới Ta Bà này không có công năng diệu dụng như vậy, mọi thứ đều bị nghiệp lực chi phối. Nó không thể tự biến hoá theo ý muốn của chúng sanh mỗi hạt vi trần đều có cái ngã của nó nếu bạn phóng ra những ý niệm tốt đẹp thì nó đáp trả lại cho bạn những hình hảnh tốt đẹp ngược lại nếu bạn phóng ra những ý niệm của tham thì nó sẽ đáp trả lại cho bạn hiện tượng lũ lụt, nếu là sân nó sẽ đáp trả lại cho bạn hiện tượng nhiệt độ tăng cao, núi lửa phun trào nếu là si nó sẽ tạo ra gió bảo, nếu là kiêu mạn nó sẽ tạo ra động đất, nếu là nghi ngờ nó sẽ tạo ra sạt lỡ, lún sụt. Nên cách duy nhất bảo vệ môi trường sống của mình là hãy vun trồng những ý niệm thiện lành tốt đẹp ngoài ra không còn cách nào khác. Hiện tượng này ngày nay đã được nhà khoa học Giang Bổn Thắng ở Nhật Bản chứng minh bằng hàng ngàn thí nghiệm về nước rằng nó có khả năng hiểu được ý niệm của con người. Nước mỹ có tiến sĩ Hew Len. Người bản địa vùng hawaii, dùng phương pháp ý niệm để trị bệnh. Ông học được cách làm đó nên giúp trị bệnh cho người trên toàn thế giới, trị khỏi đến vài ngàn người. Ông đến hồng kông thăm tôi. Tôi hỏi ông, “việc dùng ý niệm trị bệnh, là ông căn cứ trên đạo lý nào”. Ông dựa vào tâm thanh tịnh, thế thì đúng rồi. cũng tức là tâm thanh tịnh trong kinh vô lượng thọ. Ông cần duy trì tâm thanh tịnh, xa lìa mọi vọng tưởng tạp niệm, ông ko có những cái đó, trong mọi thời luôn giữ cho mình cái tâm thanh tịnh. Đó ko phải phật pháp. Vì thế, so với phật pháp, nó còn kém hơn 1 bậc. Ông dùng tâm thanh tịnh để giúp người khác trị bệnh. Phương pháp trị liệu. Ông nói, ông chỉ cần 4 dữ liệu. Thứ nhất là danh tính người bệnh. Thứ 2 là ngày tháng năm sinh. Thứ 3 là nơi ở hiện tại. Vì vậy không cần phải gặp mặt người bệnh. Ông ở hồng kông, người bệnh ở mỹ. Ông ở hồng kông vẫn có thể trị bệnh cho họ. Thật sự có thể trị khỏi. Sau cùng là hồ sơ bệnh án. họ đến bệnh viện kiểm tra. những chỗ nào có vấn đề, đó là bệnh lý. Ông chỉ cần 4 yếu tố này. Phương pháp trị bệnh là quán tưởng. Một mình ông ở trong 1 căn phòng nhỏ, nửa tiếng đồng hồ, làm quán tưởng, đem người bệnh cùng với chính mình quán tưởng thành 1 thể. ta chính là họ, họ chính là ta. Quán tưởng thành 1 thể. Hiện nay, trên thân ta. Những nơi nào bất ổn, có bệnh. Đầu tiên là sám hối. Ông có 4 câu kệ. Tức là niệm 4 câu này. Câu đầu tiên là <xin lỗi>. xin lỗi ai vậy?. xin lỗi đến những tế bào mang bệnh trên người ta. tôi ko cẩn thận khiến bạn mắc bệnh rồi. tôi xin lỗi bạn, hãy tha thứ cho tôi. loại ý niệm này, trong tâm thanh tịnh không có tạp niệm. Tế bào liền có thể hợp tác cùng ông. tế bào mang bệnh sẽ chịu hợp tác. sau đó nói <cảm ơn bạn>. 1 câu cuối cùng là <tôi yêu bạn>. Chính là 4 câu như thế. xin lỗi, xin tha thứ cho tôi. cảm ơn bạn, và tôi yêu bạn. 12 chữ. chỉ cần niệm 12 chữ này. niệm nửa tiếng đồng hồ. Mỗi ngày niệm nửa tiếng.1 tháng, tức là 30 ngày. bệnh sẽ khỏi. Bệnh trên người ông khỏi rồi. thì bệnh của đối phương, người cách đó cả mấy ngàn dặm. cũng đều khỏe lại. tôi nghe rồi rất hoan hỷ. tôi bảo mọi người đều nên chăm chỉ học theo ông. Vì sao, nếu có đại thảm họa., bệnh tật, bệnh truyền nhiễm sẽ rất nhiều. ko còn bệnh viện, ko có bác sĩ. thì phải làm sao? Dùng cách này là được. phương pháp này không cần đến y dược. cũng không cần tiêm chích. vả lại, vô cùng an toàn. ý niệm này. Tiến hew len nói với tôi. mọi hiện tượng bên ngoài kia đều biết hết. ông nói với tôi. cái bàn biết, cái ghế biết. trần nhà biết, sàn nhà biết. bức tường cũng biết. hoa cỏ cây cối ngoài kia thảy đều biết. chúng ta khởi tâm động niệm chúng đều biết tất cả. bạn thể giấu được ai chứ. việc này thông qua thực nghiệm khoa học. tiến hew len, mấy năm gần đây. ông lẽ cũng gần 70 tuổi tồi. ông trị bệnh cho người khắp nơi trên thế giới. giảng giải nguyên trị bệnh này. đó ko phải giả. hoàn toàn thật, sự thật (HT Tịnh Không) Và như vậy trong vạn sự vạn vật đều có phần Thức này. Nhưng tại sao ở loài người ý thức mới được hình thành và phát triển. Và như câu nói của triết học Mac-Lê Nin là “vật chất có trước ý thức có sau” phải chăng là đúng, nhưng có một điều chắc chắn rằng ý thức không phải do vật chất tạo ra mà ý thức là một năng lực của tâm thức kết hợp với sự tự vận hành của cơ thể mà tạo nên, nhà Phật gọi là nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra hiện tượng, do đó câu nói “vật chất quyết định ý thức” thì không được chính xác. Mà phải nói là nhờ khả năng tự vận hành của cơ thể giúp cơ thể chủ động tiếp xúc được mọi đối tượng mà nó muốn nhờ vậy mà phần Thức tăng trưởng một cách đột biến đặc biệt khi cơ thể trở nên linh động hơn như cơ thể con người thì ý thức cũng phát triển theo Đúng như với mắc xích “từ Hành duyên Thức” trong sơ đồ thập nhị nhân duyên.Và trong những năm gần đây các nhà lượng tử lực học khi nghiên cứu sâu vào thế giới vi mô họ đã nhận ra rằng vật chất thực không có tồn tại, như vậy ý thức của loài người đang mô phỏng những thứ không có thực. Vì vậy, nếu ta dựa vào ý thức để mô phỏng để hiểu được chân tướng, thật tướng của các pháp là điều không thể. Đó là lý do tại sao lúc 29 tuổi thái tử Tất Đạt Đa đã quyết định từ bỏ hết những kiến thức mà mình đã học được để đi sâu vào trong thiền định chính là để vượt qua khỏi cái tầng ý thức này, thâm nhập sâu vào bên trong “cho đến nhập vào cái Không Chỗ Nhập, thẳng thấu đến chỗ bổn nguyên, thì ngài thấy rằng Hết cả mười phương cõi, duy Tâm duy Thức mà thôi”. Giống như ngài Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói “xưa nay không một vật, chổ nào dính bụi nhơ”. Như trong kinh Vô Lượng Thọ có viết “Một mai khai ngộ, hiểu rõ, minh bạch, thấu triệt tướng tự nhiên của tự nhiên, tự nhiên tự có căn bổn, tự nhiên quang sắc nhập lẫn vào nhau, chuyển biến tối thắng. (tạm dịch: ‘Tự nhiên quang sắc xoay chuyển nhập lẫn vào nhau, chuyển biến tối thắng’): Tham là nhập vào, các ánh sáng chập vào nhau. Hồi là xoay chuyển, chuyển vần trọn khắp không ngừng, biến hóa không trở ngại vậy”. So sánh với lý thuyết dây ta thấy có những điểm tương đồng . Như các “sợi năng lượng” bên lý thuyết dây chính là từ “quang sắc” , và “các sợi này có thể kết hợp và chuyển biến”. Câu này cũng tương đương với câu kinh này “Tự nhiên quang sắc xoay chuyển nhập lẫn vào nhau, chuyển biến tối thắng”. Như vậy muốn khai ngộ, muốn thực chứng chân tướng thực tướng của các pháp con người phải biết buôn bỏ cái ý thức phân biệt này. Nhưng hiện nay đại đa số con người cứ nghĩ rằng vật chất tạo ra ý thức và khi cơ thể tan hoại thì ý thức cũng không còn. Điều này đã kéo theo nhiều hệ quả nghiêm trọng của xã hội. vì mọi người tưởng chết là hết nên cố gắng nổ lực phấn đấu tạo ra nhiều của cải vật chất để hưởng thụ cho hết trước khi xuống suối vàng, có khi vì muốn có được điều mình muốn họ sẵn sàng giết hại những chúng sanh khác mà không sợ báo thù, thặm chí giết người để bịt đầu mối vì họ nghĩ chết là hết. Mà như ta biết ý thức là một năng lực của tâm thức vốn không sanh không diệt, vật chất chỉ là một tướng hư huyễn như vậy việc nó tụ hay tán chỉ có tính ảnh hưởng đến những tâm thức còn bị vô minh che đậy chứ không có tính quyết định đến tính còn và mất của tâm thức, và vì còn bị vô minh che đây nên ý thức nó tưởng thế giới vật chất này là thật. Do vậy khi cơ thể này tan hoại ý thức này cần kiếm một cơ thể khác một là để tăng thêm sự hiểu biết về thế giới vật chất này hai là vì nó tưởng thế giới vật chất này là thật nên cần phải đi vào những cảnh giới để hiện thực những dục vọng mà nó đã tích lũy trước đó. Và những dục vọng này là từ đâu mà có đó chính là từ những thông tin mà nó cảm nhận về một đối tượng nào đó được lưu giữ trong tiềm thức của nó. Và những thông tin này ở dạng mô phỏng trong tiềm thức mà mô phỏng thì không có thực , chính điều này đã thôi thúc nó phải hành động phải hiện thực nó trong thế giới vật chất mà nó cho là có thực này. Nên trong vấn đề tu tập của hầu hết các tôn giáo họ đều hạn chế không để cho người sơ cơ tiếp xúc với nhiều thông tin bên ngoài, càng ít thông tin càng tốt. Nhưng trong thế giới ngày nay thì ngược lại, thời đại công nghệ thông tin đang bùng nổ, những thông tin như sát, đạo, dâm, vọng xuất hiện khắp mọi nơi, điều này đã khiến loài người ngày nay đã tạo ra bao nhiêu tội nghiệp, họ không thể kiểm soát được chính những hành động của mình vì họ cho rằng khi xem những thông tin giải trí này nó sẽ lưu vào trong ý thức của họ mà ý thức là cái vô hình không có thực thì sẽ không có tác hại gì nên họ cứ tha hồ đắm mình vào trong những thứ giải trí này để rồi đến một lúc nào đó thiếu tỉnh táo, những thứ thông tin được chấp chứa trong tâm sẽ xui khiến họ hành động để biến những thứ đó thành hiện thực. Nên ta thấy vì sao khi tu tập thiền định người ta phải giữ giới tinh nghiêm, vì một khi trong tâm họ chất chứa nhiều thông tin nó sẽ khiến con người phải hiện thực nó và phải hoạt động và như vậy bao giờ mới có thể đắc định, có thể khai trí huệ. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin như ngày nay việc hạn chế để người tu hành không tiếp xúc với nhiều thông tin là một điều khó khăn đặc biệt là những người tu hành tại gia. Do vậy chư Phật đã nghĩ ra một cách khác thây vì đi sâu vào thiền định vượt qua khỏi tầng ý thức này để có thể nhổ được tận gốc cái ý thức phân biệt này thì ta có thể trồng một thứ khác và ta chỉ trồng một thứ này thôi. Thứ này có thể tăng trưởng nhờ vậy nó mới đủ khả năng che phủ được hết những ý niệm mới đang ngày ngày được huân tập và tăng trưởng do bởi sự tiếp xúc hàng ngày của 6 căn với 6 trần. Sự che phủ này mới đủ để cho nó không thể khởi tác dụng thôi thúc chúng ta hiện thực nó. Và cái thứ khác này chính là niệm hồng danh của Chư Phật. Với pháp môn niệm Phật này khi đi đứng nằm ngồi mặt áo ăn cơm chúng ta đều có thể khởi lên câu niệm Phật được, và nhờ vậy dần dần vọng niệm sẽ bớt dần và câu danh hiệu Phật sẽ thành một khối. Điều này thì ai cũng làm được chỉ 3 năm là có thể làm được. Và khi đạt tới trình độ này là niệm Phật thành phiến hay thành khối, Phật A Di Đà sẽ hiện ra báo cho bạn biết thọ mạng của bạn là còn bao nhiêu và bạn muốn đi theo Phật lúc nào là tùy bạn.   Hiệu ứng nguyên lý bất định cho ta hiểu được rằng tính sóng và hạt là 2 mặt đối nghịch nhau nghĩa là khi đi vào thế giới càng nhỏ thì tính chất sóng là sự chuyển biến, sự biến hóa sẽ càng nhanh như tốc độ của sóng nước không nhanh bằng tốc độ của sóng âm thanh và tốc độ của sóng âm thanh không nhanh bằng sóng điện từ hay sóng ánh sáng và tốc độ sóng ánh sáng không thể nhanh bằng sóng tư tưởng như HT Tịnh Không có nói “Thế nhưng ý niệm của chúng ta vừa khởi, cái sóng tư tưởng này lập tức biến khắp hư không pháp giới, không có tốc độ nào có thể so sánh kịp. Chư Phật dạy chúng ta, chúng ta khởi tâm động niệm, niệm một câu A Di Đà Phật thì ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, A Di Đà Phật lập tức liền nhận được tín hiệu này, chúng ta liền bắt tín hiệu được với Phật. Ngài nhận được tin tức rồi, Ngài cũng có hồi âm”. Và ngược lại, tính chất hạt như sự xác định một vùng không khí nào đó sẽ khó khăn hơn so với việc xác định một vùng chất lỏng nào đó và sự cố định của chất lỏng thì không thể ổn định bằng vị trí của các vật thể rắn. Như vậy tính chất hạt là đại diện cho khả năng có thể sở hữu và nắm bắt.

Tính chất sóng đại diện cho sự chuyển biến, càng nhỏ thì tốc độ chuyển biến càng tăng tốc độ lan truyền càng lớn thì chúng ta càng khó mà nắm bắt và giữ gìn được nó, như ánh sáng chẳng hạn  chúng ta phải nhờ những công cụ máy móc hiện đại mới có thể nắm bắt được, và  cho đến mức ý niệm thì hoàn toàn không có một máy móc nào có thể nắm bắt được. Và ta thấy khi nghiên cứu càng sâu vào thế giới vi mô con người càng phát hiện ra được những nguồn năng lượng càng lớn như dòng điện tuy nhỏ bé nhưng có thể điều khiển những cổ máy khổng lồ, và sâu hơn nữa là hạt nhân nguyên tử vô cùng nhỏ nhưng nó có thể phá hủy một thành phố trong tích tắc. Và bây giờ ngài Arbert Einxtanh đã phát hiện ra một thứ nhỏ hơn nữa đó chính là ý niệm tới mức này thì không máy móc nào có thể điều khiển được ngoại trừ chính tâm thức của loài người như trong kinh Phật có nói rằng ‘Trụ trong giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, Bồ Tát bứt lấy một tam thiên đại thiên thế giới như thợ đồ gốm [véo lấy một miếng đất sét], đặt trong bàn tay phải rồi ném khỏi hằng sa thế giới nhưng chúng sanh trong thế giới ấy chẳng biết, chẳng hay nơi mình đang trụ. Lại đem đặt trả về chỗ cũ, khiến cho chúng sanh đều chẳng có ý tưởng là [thế giới] bị đem đi hay trả lại, mà bổn tướng của thế giới này vẫn như cũ’ và: ‘Bồ Tát đem chúng sanh trong một cõi Phật đặt trong bàn tay phải, bay đến mười phương, hiện bày khắp hết thảy nhưng chẳng lay động bổn xứ’
. Đây chính là sức mạnh của ý niệm. Nhưng ý niệm không có kích thước nên theo nguyên lý bất định thì tần số tốc độ của nó không gì sánh bằng. Và như vậy năng lượng của nó cũng không thể tưởng tượng được. Đúng như Arbert Einxtanh có nói rằng “Có một loại Lực vô cùng mạnh mẽ, mà cho tới nay khoa học cũng không thể tìm ra lời giải đáp chính xác dành cho nó, Lực này bao gồm và chi phối tất cả những lực khác. Nó thậm chí còn đứng sau bất kỳ hiện tượng nào được vận hành bởi vũ trụ mà chúng ta vẫn chưa thể lí giải”. Và ai là người có được năng lực này chính là 10 phương chư Phật. Các ngài có thể kiến tạo ra được những cảnh giới theo ý muốn của mình. Và trong kinh Hoa Nghiêm Phật có nói rằng “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng Như lai, nhưng do vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng đắc”. Vọng tưởng là khởi tâm động niệm, phân biệt là phần thức là phần tinh thần, chấp trước là thế giới vật chất.  Và như vậy muốn khai thác được sức mạnh này chúng ta phải đi sâu vào trong thiền định vượt qua khỏi thế giới vi mô, thế giới ý niệm vô hình và theo nguyên lý bất định thì nó sẽ hoàn toàn ngược lại với thế giới thông thường mà mắt thường chúng ta cảm nhận. Như trong thế giới thông thường chúng ta có thể sở hữu và nắm bắt thứ gì đó, thì ở đây sẽ ngược lại là “vô sở hữu, bất khả đắc”. Nhưng năng lực biến hóa của nó thì vô hạn, không gì không thể, không gì không biết trong kinh Phật gọi đây là trí tuệ Bát Nhã  “Nhất thiết pháp, vô sở hữu, tất cánh không, bất khả đắc” (Hết thảy các pháp chẳng có sở hữu, rốt ráo không, chẳng thể nắm bắt được). Nhà Phật gọi cái thấy biết chơn thật này chỉ có ở pháp nhãn, huệ nhãn và Phật nhãn. Muốn mở được những con mắt này chúng ta phải tu tập giới, định, huệ ngoài ra không còn phương pháp nào khác. Tu hành trong Phật Giáo cũng 
như các tôn giáo lớn đều là tu thiền định là quay vào bên trong thâm nhập sâu vào bên trong cho đến nhập vào cái không chổ nhập. Phương pháp thì chỉ có vậy nhưng đi hướng nào chọn con đường nào để đi thì không phải chuyện đơn giản. Riêng Phật Giáo có 84000 pháp môn, nếu gộp cả những tôn giáo khác thì có vô lượng vô biên pháp môn. Đặc biệt trong thời đại ngũ trược ác thế này người tu hành gặp trùng trùng trở ngại bên trong thì có phiền não ma, ngũ ấm ma, tử ma bên ngoài thì bị ngũ dục lục trần mê hoặc bị ngoại ma, thiên ma quấy phá. Người tu hành như đứng giữa một mê hồn trận xung quanh tứ phía tầng tầng lớp lớp đủ các loại vật dục cám dỗ. Hành giả như bị lạc giữa rừng không thấy lối ra. Vì vậy, trong kinh Đại Tập Đức Phật có dạy: “Đời mạt pháp, trong số ức triệu người tu hành,chưa có được một người đắc đạo; duy chỉ có nương vào pháp môn niệm Phật mới được độ thoát ra khỏi sanh tử”. Pháp môn niệm Phật này tại sao có sự khác biệt như vậy. Cũng giống như ta bị lạc giữa rừng không tìm thấy lối nhưng nếu trong tay ta có một chiếc điện thoại và chúng ta biết được số của đội cứu trợ thì chỉ trong chốc lác với phương tiện máy móc hiện nay họ có thể định vị bạn một cách dễ dàng và với 1 chiếc trực thăng họ nhanh chóng đến được chổ của bạn mà không phải đợi quá lâu. Khi bạn khởi lên một câu danh hiệu Phật sóng tư tưởng này còn nhanh hơn sóng vô tuyến tức thời Phật A Di Đà liền nhận được và gia trì cho bạn khi nào công phu bạn thành khối nghĩa là Tín, Nguyện của bạn thật sự muốn cầu vãng sanh thì Phật A Di Đà liền hiện ra trước mặt bạn báo cho bạn biết thọ mạng của bạn là còn bao nhiêu và bạn muốn đi theo Phật lúc nào là tùy ở bạn.

Và một câu hỏi được đặt ra là cái gì khiến cho những thứ này tự giao động, và biến hóa như vậy, các khoa học gia ngày nay vẫn chưa có câu trả lời, nhưng nhờ vào hiệu ứng thứ 4 của cơ học lượng tử sẽ giúp ta xác định được cái đối tượng đầy bí ẩn này.Và Hiệu ứng thứ 4 của cơ học lượng tử đó là hiệu ứng vướng víu lượng tử. Hiệu ứng này không những cho ta thấy được một năng lực vô hạn tiềm ẩn nằm ở phía sau mọi sự vật hiện tượng mà hiệu ứng này cũng giúp chúng ta thấy được con dao 2 lưỡi của lòng ham muốn trong mỗi con người chúng ta. Vấn đề này đã được trình bày ở trang ”Sự tương tác kỳ lạ của những hạt photon”,  Vui lòng nhấn tại đây để xem

Sóng Hạt
Tinh Thần Vật Chất
Thức Tướng (Hình)
Ý Thức Thể Xác
Thây đổi trạng thái theo thời gian Thây đổi vị trí trong không gian
Danh Sắc
Chuyển Tướng (Chuyển Thức) Hiện Tướng (Cảnh Giới Tướng)
Kiến Phần Tướng Phần
Sở Tri Chướng Phiền não chướng
có sanh, có diệt có đến, có đi
Phân Biệt Chấp Trước




Rất vui khi nhận được sự chia sẽ đóng góp ý kiến của quí đạo hữu,mọi thông tin chia sẽ xin gửi vào e-mail nghephap2015@gmail.com 

Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML và các thuộc tính