DUYÊN KHỞI GIÁO PHÁP TINH YẾU VÀ CỐT TỦY CỦA ĐẠO PHẬT TẬP 2 PHẦN 2

Bài chia sẽ lần trước chúng tôi có giới thiệu sơ qua về 12 mắt xích của thập nhi nhân duyên, nhưng chỉ mới dùng nó để mô tả về phần hoạt động của vọng tâm bên trong, còn ở thế giới bên ngoài nó sẽ diễn ra như thế nào, hôm nay chúng tôi sẽ trình bày tiếp.

Trong bài chia sẽ lần trước, chúng tôi có giới thiệu về khái niệm Đức bên Đạo Lão là cái động hữu hình, nó gồm có 2 phần, phần 1 là phần động, phần 2 là phần hữu hình và như Đạo Lão có nói rằng “Cái Dụng () của Đạo tạo ra âm dương, nhị nguyên, những cặp đối đãi và từ sự biến hoá, chuyển động của âm dương mà phát sinh thế giới thiên hình vạn trạng.” Cái động và cái hữu hình chính là 2 cặp đối đãi không thể tách rời, và quan sát ngoài thiên nhiên ta thấy địa cầu chúng ta đang ở trạng thái ổn định, ít biến động, các hình thể núi non, sông ngòi đã hình thành. Còn mặt trời vẫn đang ở trạng thái biến động rất lớn, chưa có một hình thái gì cố định, nó chỉ là một khối khí khổng lồ. So sánh 2 thiên thể này ta thấy địa cầu đại diện cho cái hữu hình, đã có hình thái núi non, sông ngòi rõ ràng. Nhưng không phải không có biến động gì, nó cũng có một ít biến động nhưng không thể so bì được với sự biến động dữ dội như trên mặt trời. Nên mặt trời đại diện cho phần động. Như vậy 2 đối tượng này là 2 đại diên cho  2 mặt đối đãi không thể tách rời, cả 2 phải cùng tồn tại mới có thể phát sinh ra thế giới thiên hình vạn trạng.

Trước tiên chúng ta hãy xem xét về phía mặt trời trước. Xin mời quý vị xem video clip sau để hiểu rõ hơn chu trình hoạt động trên mặt trời.

…………………

Bất kỳ một dạng vật chất nào cũng tồn tại 2 mặt đối đãi là phần động và phần hữu hình,và mặt trời cũng không ngoại lệ nó cũng có 2 phần một phần động được đại diện bởi lực từ trường trên mặt trời và phần hữu hình là các nguyên tử H, He và ánh sáng.

Ở trên địa cầu cũng có lực từ trường này và cũng luôn tác động lên các sự vật, nhưng các dạng vật chất trên địa cầu đã đi vào cân bằng và ổn định, nhiệt độ cũng không cao nên không gây ra nhiều sự biến động. Còn trên mặt trời nhiệt độ rất cao khiến cho các điện tử bức ra khỏi lực tương tác columb của nguyên tử làm các nguyên tử H chỉ còn lại hạt nhân, còn các electron chuyển động tương đối tự do giữa các hạt, Khi các hạt này di chuyển, chúng tạo ra từ trường. Từ trường này sau đó lại ảnh hưởng ngược lại lên chuyển động của các hạt mang điện. dưới một điện từ trường rất mạnh này đã cung cấp một động năng rất lớn cho các hạt nhân H khoảng 10^5 eV để các hạt nhân tiếp xúc với nhau tạo nên phản ứng nhiệt hạch.

Tính chất hạt

Trước khi đi vào chi tiết mối liên hệ của từng mắt xích chúng tôi đưa ra một hình ảnh ví dụ để mọi người dễ hình dung, như chiếc xe máy của chúng ta chuyển động được trước tiên là cần phải có năng lượng, năng lượng này lấy từ xăng, dầu. Xăng dầu là một dạng nhiên liệu được sử dụng để giải phóng năng lượng khi cấu trúc vật lý hoặc hóa học bị thay đổi. Nhiên liệu giải phóng năng lượng thông qua quá trình hóa học như đột cháy. Khi đốt cháy làm cho nhiệt độ trong buồng đốt tăng lên khiến cho khí đốt giãn nở tạo nên áp suất tác dụng lên một piston (píttông) đẩy piston này di chuyển đi. Nhiệt độ là một dạng tồn tại của năng lượng, nhà Phật gọi Năng Lượng là tàng thức, là căn bản vô minh. Nhiệt năng làm cho các hạt điện tử và các phân tử khí vận hành và chuyển động nhanh hơn làm cho các phân tử khí giản nở ra, sự vận hành này là mắt xích hành, điều này làm tăng áp suất trong các động cơ sinh ra một áp lực đẩy các pittong lên, Nhờ cách thiết kế và sự kết hợp giữa các bộ phận với nhau đã giúp cho áp lực do áp suất gây ra được chuyển thành cơ năng và nhờ kết hợp thanh truyền và các trục khiểu mà chuyển động tịnh tiến của piton thành chuyển động quay. Sự kết hợp để chuyển hóa các lực này gọi là mắt xích thức là các phương thức kết hợp các thành phần với nhau làm sao chuyển hóa các lực thành các dạng chuyển động như mình muốn. Việc chuyển động của một chiếc xe là dựa trên sự quay tròn của các bánh xe, các bánh xe này chính là danh sắc, là đối tượng mà các lực cơ học tác động lên. Còn việc bánh xe chuyển động tròn giúp chiếc xe tiến về phía trước là mắt xích Lục Nhập. Khi chiếc xe di chuyển sẽ có sự cọ xát, xúc chạm, tiếp xúc với nhau hoặc với những đối tượng bên ngoài như bánh xe tiếp xúc với mặt đường làm cho các bộ phận dần dần bị hao mòn, sự thây đổi này là mắt xích thọ nếu còn sử dụng được thì nó vẫn còn được yêu quý đây là mắt xích ái, rồi nó được lau chùi, tân trang đây là mắt xích thủ và xem nó như một thành viên trong gia đình và cất giữ nó cẩn thận đây là mắt xích Hữu. Tới khi không còn sử dụng được nữa thì mỗi bộ phận sẽ được phân tách ra tại những chổ được kết hợp với nhau, phần nào còn sài được thì kết hợp với những bộ phận khác và cho ra chiếc xe mới, chiếc xe mới cũng là một dạng của mắt xích thọ, chiếc xe mới này sẽ được khách hàng chào đón đây là mắt xích Ái, và họ bỏ tiền ra mua rồi đem về nhà là mắt xích Thủ, rồi họ cất giữ ở trong nhà là mắt xích Hữu. Xe máy là một dạng thiết bị điều khiển tự động, mà mọi hệ thống tự động đều hổ trợ được cho con người 6 mắt xích phía trên còn 4 mắt xích dưới là thọ, ái, thủ, hữu thì cần con người tác động vào, vì chỉ hổ trợ được 6 mắt xích phía trên nên nó không thể sanh trưởng theo không gian được, con người thiết kế nó như thế nào thì nó sẽ như vậy, nó chỉ có sự biến chuyển theo thời gian là sự chuyển động của chiếc xe, hoặc sự chuyển động nào đó tùy theo các thiết bị tự động. Nếu kết hợp chức năng của chiếc máy tính và chức năng điều khiển tự động thì bộ máy này sẽ phát triển thành dạng robot hay người máy nó có thể hổ trợ con người được nhiều hơn. Nhưng robot có tối tân thế nào cũng có những mắt xích mà mãi mãi nó không bao giờ chế tạo ra được, như ở máy tính dù chương trình phần mềm có phức tạp thế nào cũng thiếu 3 mắt xích là mắt xích Hành, sự Mê chấp đạo lý và Si Ái chính là 2 mặt đối đãi không thể tách rời là căn nguyên tạo nên thế giới nội tâm bên trong mỗi chúng ta nên về mặt chương trình phần mềm, người máy  không thể tự nâng cao kiến thức và tự chuyển hóa bản thân được. Còn các thiết bị điều khiển thì thiếu 4 mắt xích phía dưới là thọ, ái, thủ, hữu nên về mặt thể xác người máy không thể ăn uống để nuôi dưỡng cơ thể và không thể tăng trưởng như các loài động vật được. Như ta thấy một con robot làm được những công việc đơn giản cũng là cả một quá trình phát triển công nghệ kỹ thuật hàng thế kỷ của nhân loại. Nên chúng ta hãy trân quý cái thân người này và biết quý trọng thời gian tranh thủ mọi lúc mọi nơi làm những việc mà chỉ có loài người mới có thể làm được, đó là khả năng chuyển hóa và nâng cao phần tâm thức của mình đó mới là việc duy nhất mà chúng ta đáng phải làm.

Bây giờ chúng ta cùng quay lại chu trình vận hành trên mặt trời, như ta thấy ở trên mặt trời liên tiếp xảy ra các phản ứng nhiệt hạch, một khi có sự phản ứng và chuyển hóa ra vật chất mới, thì ta biết rằng sự phản ứng chính là mắt xích xúc, xúc có nghĩa là xúc chạm các đối tượng với nhau làm bẻ gảy các lực liên kết, các lực liên kết này có công dụng kết hợp các hạt cơ bản lại với nhau tạo thành một dạng hạt tổ hợp hoặc một hợp chất nào đó, khi các lực kết hợp này bị bẻ gãy thì nó sẽ phóng thích ra những hạt cơ bản này hoặc có thể kết hợp được liền với những hạt khác tạo ra dạng hạt tổ hợp mới hoặc hợp chất mới. Sự thây đổi này là mắt xích thọ, sự tiến gần vào nhau chính là lục nhập, còn danh sắc chính là các hạt nhân Hidro, vậy Thức là gì nó chính là điện từ trường trên mặt trời đã điều khiển các hạt nhân H này, vậy Hành là sự vận hành của những hạt mang điện đã tạo ra cái từ trường này.

Giống như sự vận hành của dòng điện cung cấp năng lượng cho máy tính hoạt động, chủ yếu là cung cấp cho chương trình phần mềm điều khiển các mạch logic hoạt động mà nhiệm vụ chính của nó là xử lý dữ liệu, việc xử lý dữ liệu này cũng chỉ làm 2 việc là kết hợp và phân chia dữ liệu làm cho dữ liệu được chuyển biến, giống như công việc của các lực cơ bản trong tự nhiên được Lý Thuyết Dây định nghĩa như sau “những dây năng lượng này có thể phân chia và kết hợp chúng xuất hiện như những hạt phát xạ và hấp thụ những hạt khác, dẫn đến các lực tương tác đã biết giữa các hạt” từ sự kết hợp và phân chia hay sự phát xạ và hấp thụ này mà nó làm cho các hạt chuyển biến như sự chuyển động của các hạt hoặc sự tái cấu trúc lại vật chất để ra một chất mới. Và từ đâu sinh ra sự vận hành này đó chính là nhiệt độ rất lớn trên mặt trời, đây là căn bản vô minh. Giống như dòng điện cung cấp năng lượng cho máy tính làm việc cũng được tạo ra từ các dạng năng lượng khác như thủy điện là một dạng động năng hay nhiệt điện v.v.. Như vậy ta có Vô Minh duyên Hành, hành duyên Thức, Thức là các lực điện từ trường, và Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc ở đây là các hạt nhân H, là đối tượng mà điện từ trường trên mặt trời tác động lên. Giống như kiến thức lái xe máy nó sẽ mốc những hình dung về các bộ phận điều khiển của chiếc xe lên bộ não mà không phải là những đối tượng khác. Và khi các hạt nhân H va chạm nhau sinh ra phản ứng nhiệt hạch, thì ta có Danh Sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên cho xúc. Xúc là phản ứng là bẻ gãy các lực liên kết phóng thích ra các hạt cơ bản hơn hoặc tạo ra hợp chất mới. Và một khoảng không gian được tạo ra để duy trì sự tồn tại của dạng vật chất mới này, như vậy ta có vật chất mới là Thọ sẽ duyên cho Si Ái, Si Ái duyên cho Thủ và Hữu. Sau một phản ứng nhiệt hạch một lượng nhiệt khổng lồ được tạo ra, phần nhiệt này chính là phần vô minh nó lại duyên cho hành là sự vận hành, sự chuyển động của các hạt mang điện, và cứ như vậy mà vòng tuần hoàn cứ tiếp tục quay cho đến khi nào không còn nguyên tử H nào trên mặt trời nữa thì vòng tuần hoàn này mới chấm dứt, mà lượng nguyên tử H trên mặt trời chính là mắt xích Hữu, nên ta có Hữu duyên cho vô mình là vậy.

Ngoài ra, sau một phản ứng nhiệt hạch nó cũng phóng thích ra một lượng ánh sáng rất lớn và nhờ có ánh sáng này mà địa cầu chúng ta mới có sự sống. Nhưng tại sao ở địa cầu chúng ta mới có đầy đủ điều kiện cho sự sống còn những hành tinh khác thì không. Đó là nhờ địa cầu chúng ta hội tụ được đầy đủ các dạng vật chất, và mỗi dạng vật chất được xem như là một mắt xích trong một chu trình, một hệ thống, nếu thiếu một trong những mắt xích này thì cái chu trình, cái hệ thống này không thể hoạt động. Cái hệ thống hay cái chu trình này nó có giống gì với cái hệ thống trong thập nhị nhân duyên không, chúng ta hãy cùng xem xét tiếp.

Ánh sáng mặt trời được tạo ra chủ yếu là do ở mặt trời tồn tại một dạng vật chất đặc biệt gọi là plasma, thế nào là dạng vật chất plasma xin mời quý vị xem video clip sau để rõ hơn về dạng vật chất này.

…….

Plasma là một dạng vật chất có thể phát ra ánh sáng, trên mặt trời dạng vật chất plasma này chiếm một số lượng khổng lồ vì vậy mà mặt trời là nguồn cung cấp ánh sáng chủ yếu cho địa cầu chúng ta và không khí trên địa cầu nhờ ánh sáng mặt trời truyền năng lượng vào làm cho áp suất của không khí bị thây đổi từ đó mà tạo ra gió, sự xuyên qua này là một đặc trưng rất rõ của mắt xích Lục Nhập ở đây chính xác là hiện tượng quang nhập còn việc gió bão gây ra cọ xát là một sự thể hiện rõ nhất của mắt xích Xúc, Và nhờ sự hấp thụ ánh sáng mặt trời mà nước bốc thành hơi và nhờ không khí lạnh mà nó ngưng tụ thành mây, việc chuyển đổi chất lỏng từ nước thành hơi, rồi từ hơi thành mây và từ mây lại thành mưa đây là những dạng thây đổi tạo ra các hình thái mới thể hiện đặc trưng rõ rệt của mắt xích Thọ và hình ảnh nước rơi xuống rồi làm trôi chảy đất cát là một thể hiện của sự tham dục là sự thắm xuống sự lôi kéo là bản chất của mắt xích Ái là Si Ái, khi nước thắm vào đất tạo ra những mạch nước ngầm, sông, suối làm trôi đất đá, cát sỏi từ chổ cao xuống chổ thấp hoặc có thể đẩy các chất dinh dưỡng trong đất lên thân cây là đặc trưng của mắt xích Thủ, những chổ thấp được bồi đắp càng lúc càng cao hoặc cây càng lúc càng lớn là đặc trưng của mắt xích hữu.

Từ 4 trạng thái ánh sáng, không khí, nước và chất rắn tương ứng với 7 mắt xích phía dưới trong thập nhị nhân duyên giúp ta thấy được quy luật trật tự sắp xếp về mức độ của 2 tính chất đối đãi nhau như cái động và cái hữu hình, cái tính chất sóng và hạt, độ xác định của cái và vị trí, cái Mê Chấp Đạo Lý và cái Si Ái. Càng lên cao thì cái tính chất thứ I tăng dần và cái thứ II sẽ giảm dần và ngược lại càng xuống thấp thì cái tính chất thứ II càng tăng dần và cái thứ I giảm dần. Biểu tượng âm dương ngũ hành của Đạo Lão cùng mang một ý nghĩa đó, hoặc hệ thức bất định một nguyên lý quan trọng của cơ học lượng tử cũng biểu đạt cái hiện tượng này.

Như đất đá ổn định và bền vững hơn các dạng vật chất khác nên nó đại diện cho mắt xích thủ và hữu, thủ là đại diện cho sự gìn giữ, chấp trì còn hữu là đại diện cho sự tồn tại lâu dài, đất đá nằm dưới cùng nên tính hữu hình của nó thể hiện rõ nhất, theo quy tắc này ta thấy mắt xích danh sắc nằm phía trên không khí nên cái danh sắc này phải biến động và vi tế hơn cả không khí, và chỉ có ánh sáng là thích hợp nhất cho mắt xích danh sắc này. Danh sắc có nghĩa là những đối tượng độc lập nó có một sự vận hành riêng của mình được tách biệt rõ ràng với những đối tượng khác, các hạt photon là ánh sáng là những đối tượng mà mặt trời không ngừng phát ra để truyền năng lượng xuống địa cầu. Nhưng không chỉ có mặt trời phát ra được ánh sáng mà bất kỳ hợp chất hữu cơ nào cũng có thể đốt cháy được cũng có khả năng phát sáng. Hợp chất hữu cơ được định nghĩa như là các hợp chất có liên kết cacbon-hidro. hidro là nguyên tố chiếm đa số trên mặt trời đại diện cho phần động, phần chuyển biến và cacbon là nguyên tố chiếm đa số trong các hợp chất hóa học trên trái đất, các hợp chất hóa học trong đó oxy là nguyên tố chủ yếu, Người ta ước tính oxi chiếm 49,2% khối lượng của vỏ Trái Đất.[4] và chiếm khoảng 88,8% khối lượng các đại dương[5] (là H2O, hay nước) và 20% theo thể tích bầu khí quyển Trái Đất. Nên Oxy là nguyên tố chiếm đa số trên trái đất đại diện cho phần hữu hình, phần ổn định. Cacbon được xem như là thành phần có tác dụng phân tách giữa âm và dương, giữa trời và đất không để cho Hidro và Oxi kết hợp thành một như là phân tử nước mà ta biết, nhưng vẫn tạo được sự liên kết giữa chúng. Như mặt trời và trái đất phải tách làm hai, nhưng vẫn có sự tương tác với nhau thì nó mới tồn tại và phát triển được. Ngoài ra hợp chất hữu cơ là những hợp chất ở trên trái đất nhưng lại thể hiện được đặc tính của mặt trời là khả năng đốt cháy và phát sáng. Đó là nhờ thực vật có chất diệp lục giúp các chất vô cơ quang hợp được với ánh sáng và ánh sáng là thành phần trung gian kết nối giữa mắt xích thức phía trên và các chất vô cơ phía dưới, phần thức này có tác dụng kết hợp các bộ phận với nhau thành một thể và trong tất cả các hợp chất vô cơ chỉ có hợp chất Cacbon, Hidro và Oxi là có thể tăng trưởng được, nên trong lịch sử hóa học, có lẽ là từ thế kỷ 19, người ta tin rằng các hợp chất hữu cơ chỉ có thể tổng hợp trong cơ thể sinh vật thông qua cái gọi là vis vitalis -“lực sống”, cái lực sống này chính là phần thức. Nên trên mặt đất các hợp chất hữu cơ được xem là một dạng tồn tại đại diện cho mắt xích danh sắc đảm nhiệm chức năng kết nối giữa đất và trời, chất kết nối ở đây chính là ánh sáng,  trời ở đây là các trường sinh lực trong thực vật như trên mặt trời tồn tại lực điện từ trường rất mạnh, và đất là các hợp chất vô cơ, đây là bước tiến hóa đầu tiên theo hướng đi lên đối với các dạng tồn tại trên mặt đất. Không khí thể hiện rõ 2 mắt xích tiếp theo là Lục nhập và xúc, đảm nhiệm di chuyển những đám mây đi khắp nơi, còn Nước thì thể hiện rõ 2 mắt xích tiếp theo là Thọ, Ái, đảm nhiệm di chuyển phù sa xuống các vùng đồng bằng và di chuyển chất dinh dưỡng vào trong thân cây, còn Đất, đá thì thể hiện 2 mắt xích sau là thủ và hữu, tạo ra nơi nương tựa cho thực vật được bám vào, giúp nó được sinh trưởng và phát triển. 3 dạng vật chất phía dưới là đất, nước, không khí thuộc về hợp chất vô cơ nó không thể đốt cháy được, nếu nó thêm chức năng đốt cháy phát ra được ánh sánh thì nó trở thành hợp chất hữu cơ, và khi các hợp chất hữu cơ này có thêm khả năng kết hợp các bộ phận với nhau thành một thể thì nó trở thành thực vật, cây cối có khả năng kết hợp các bộ phận với nhau thành một thể và có thể phân chia thành nhiều cành nhiều lá, nên trong lịch sử của ngành hóa học họ đã phát hiện ra rằng các hợp chất hữu cơ được tạo ra từ các loài sinh vật bao gồm cả thực vật là nhờ nó có “lực sống”. Nhờ có cái lực này nó mới có sự kết hợp và phân chia, đây là đặc trưng của mắt xích Thức, giống như sự kết hợp của các bộ phận xe máy, hay sự kết hợp và phân chia của các sợi năng lượng tạo ra các lực cơ bản trong tự nhiên, hay sự kết hợp và phân chia các dữ liệu tại các cổng logic hay các mạch tích hợp của bộ vi xử lý trong máy tính. Các sự kết hợp này cơ bản là nhớ các lực liên kết, các lực này tồn tại trong hư không và không thể thấy, nên Phật Giáo đặt nó là không đại. Các lực cơ bản này còn linh động và vi tế hơn cả ánh sáng, nên ta thấy quy tắc tăng và giảm trong sơ đồ thập nhị nhân duyên về 2 loại tính chất đối đãi nhau là rất chính xác. Ngoài ra thực vật có thể ra hoa kết quả, và từ quả mà nó có hạt khi hạt được gieo xuống đất thì nó có thể nảy mầm và phát triển nên thực vật còn đại diện cho 1 mắt xích nữa là mắt xích sinh, nên từ thực vật trở lên mới bắt đầu được gọi là sinh vật, và nó là loại vật chất có chức năng cung cấp thức ăn cho động vật, nên nó mới có tên là thực vật. Nếu thực vật được thêm khả năng tự di chuyển, tự vận hành thì nó thành động vật, khả năng di chuyển này là nhờ động vật có khả năng hình dung ra được các đối tượng bên ngoài thành các hình bóng ở bên trong tâm thức của mình, Phật Giáo Đại Thừa gọi khả năng này là kiến đại tương đương với phần Si Ái của vọng tâm. Nhờ khả năng này nên động vật mới có thể tự vận hành được, nên động vật đại diện cho mắt xích hành và phải chịu luân hồi sanh tử nên động vật đại diện thêm 1 mắt xích nữa là Tử, chết đi rồi lại sinh ra rồi từ từ tiến hóa, đến khi nào động vật có khả năng nhận thức có khả năng tu tập chuyển hóa thì nó trở thành người, khả năng nhận thức này Phật Giáo Đại Thừa gọi nó là thức đại tương đương với phần mê chấp đạo lý của vọng tâm, nhờ khả năng này mà nó biết phát minh, sáng chế biết chuyển hóa năng lượng nhằm phục vụ đời sống vật chất cho con người, xa hơn bước nữa nếu họ biết tu tập để mở ra được các luân xa thì họ có thể trực tiếp nhận được nguồn năng lượng vô tận từ vũ trụ, nên con người đại diện cho mắt xích vô minh là phần năng lượng, và tiến xa hơn nữa nếu người này gặp được Viên Giáo Đại Thừa, Giáo Pháp này có thể giúp họ phá bỏ vô minh trở thành Phật khi đó họ có thể kiến lập ra cảnh giới tịnh độ từ đó có thể giúp những chúng sanh khác thoát ra khỏi cái thế giới do vô minh này tạo ra, là cái thế giới mà ở đó con người phải bị trói buộc và bị giới hạn bởi năng lượng nên khi bất kỳ một chúng sanh nào vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc thì họ liền thành bậc A Duy Việt Trí bồ tát là các vị bồ tát bất thoái chuyển. Và ngược lại nếu ta không tiến hóa lên thành Phật mà sự Si Ái càng ngày càng tăng trưởng thì chúng ta sẽ thoái hóa thành các loài động vật cho tới thành các loài chúng sanh vô tình. 12 cái mắt xích này rõ ràng thể hiện sự tiến hóa của các dạng tồn tại, bao gồm 7 dạng tồn tại Phật Giáo gọi nó là 7 đại , chỉ tới khi tiến hóa thành người và biết tu tập nó mới bắt đầu biết vận dụng sự chuyển hóa năng lượng này, biết hấp thụ năng lượng một cách trực tiếp, xa hơn nữa là có thể không còn phụ thuộc vào cái năng lượng này nữa lúc đó mới thật sự là hoàn toàn giải thoát tự do tự tại, còn cái sơ đồ 12 nhân duyên của chúng sanh hữu tình là mô tả quy trình chuyển hóa cái vọng tâm bên trong còn gọi là chi mạt vô minh, trong đó nó có sự tuần hoàn lặp đi lặp lại không bao giờ dứt cho đến khi nào loại bỏ được cái vọng tâm hay cái cành ngọn vô minh thì lúc đó mới có thể thoát ra khỏi vòng tuần hoàn không bao giờ dứt này. Nhưng như vậy cũng chỉ là mới thoát ra khỏi lục đạo luân hồi mà thôi và họ vẫn chưa phá được phần căn bản vô mình là phần năng lượng, mà như các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng Năng Lượng không tự sinh ra cũng không tự mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Nghĩa là một khi còn phụ thuộc vào năng lượng thì còn phải chịu sự chuyển hóa, sự tiến thoái. Nên ra khỏi lục đạo luân hồi thì mới chỉ giúp họ không còn chịu cảnh phần đoạn sanh tử mà thôi. Phần đoạn sanh tử có nghĩa là trạng thái bị mất cái thân này rồi tìm thân khác đâu khổ hơn cái biến dịch sanh tử rất nhiều. Biến dịch sanh tử giống như sự chuyển hóa trạng thái từ rắn sang lỏng, từ lỏng sang khí và từ khí sang plasma vậy. Nhưng một khi còn sự biến dịch sanh tử này tức là vẫn còn phụ thuộc vào phần Năng Lượng nghĩa là còn chịu sự chuyển hóa lúc lên lúc xuống nên những vị Bồ Tát này vẫn chưa được gọi là A Duy Việt Trí Bồ Tát, A Duy Việt Trí nghĩa là bất thoái chuyển. Nên những pháp môn nào không giúp chúng sanh thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào cái năng lượng này hay cái căn bản vô minh này, thì Phật gọi những pháp môn này là những pháp phương tiện ban đầu  nhằm tiếp cận nhân loại gây dựng niềm tin và cũng chỉ để từng bước nâng cao trí tuệ cho nhân loại mà thôi chứ nó vẫn chưa phải là pháp Cứu Cánh Viên Mãn mà Đức Phật muốn chỉ dạy cho chúng sanh. Chỉ có Viên Giáo Đại Thừa mới thật sự là viên mãn, nên pháp môn Tịnh Độ giới thiệu về cảnh giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà còn gọi là pháp Nhất Thừa Viên Giáo được 10 phương chư phật hết lời tán thán. Vì thế mà ngài Thiện Đạo Đại Sư có nói một câu rằng “CHƯ PHẬT SỞ DĨ HƯNG XUẤT THẾDUY THUYẾT DI ĐÀ BỔN NGUYỆN HẢI ! ” ”

Nhìn vào nấc thang tiến hóa dọc theo 12 cái nhân duyên này, ta thấy con người là dạng tồn tại nằm ở vị trí cao nhất nó sở hữu được một năng lực mà chỉ có nó mới có. Nó không chỉ nhận biết được năng lượng và ứng dụng sự chuyển hóa năng lượng vào trong đời sống, mà xa hơn nữa nó có thể điều khiển các luân xa thu nhận năng lượng trực tiếp từ vũ trụ không còn phụ thuộc vào bất kỳ dạng thức ăn nào. Thậm chí nó có thể phá bỏ vô minh để không còn phụ thuộc vào cái năng lượng này nữa. Nếu ý thức được cái năng lực ngoài sức tưởng tượng mà chúng ta đang sở hữu này có lẽ sẽ không ai dại dột gì phí phạm cái tinh lực mà trời ban này vào những chuyện vô bổ, để uổng phí một kiếp người thì thật vô cùng đáng tiếc.

Từ sơ đồ 12 nhân duyên biểu hiện sự tiến hóa của 7 dạng tồn tại này không những giúp cho loài người biết trân quý, biết tận dụng cái khả năng trời ban cho mà nó còn giúp ta giải thích được về độ linh động trong nấc thang tiến hóa của 7 dạng tồn tại này. Mỗi dạng đều có thể tồn tại độc lập hay tách biệt với nhau, khi càng lên cao thì độ chuyển biến độ linh động càng tăng dần, nhưng để chúng có thể tiến hóa được thì chúng cần phải có sự tương tác và hổ trợ lẫn nhau.

Như ta thấy trái đất và mặt trời, chúng hiện đang tách biệt nhau, nếu trái đất hòa với mặt trời nhập vào làm một thì nó sẽ thành mặt trời sự chuyển biến quá dữ dội của mặt trời làm nó không thể có sự sống, còn nếu không có mặt trời trái đất cũng không có sự sống, nên trái đất phải tách ra khỏi mặt trời nhưng vẫn cần phải tương tác với mặt trời để giúp nó tiến hóa, giống như cái vọng tâm của chúng ta quá linh động nên nó cần phải hợp tác với thể xác để giúp nó có sự ổn định mà tiến hóa, nhưng nếu nó hòa với thể xác làm một thì nó lại giống thực vật không thể di chuyển được làm sao mà học hỏi mà tiến hóa. Thể xác giống như chiếc áo giữ ấm cho linh hồn giống như mặt trời là nguồn năng lượng cung cấp cho địa cầu nếu thiếu nó thì linh hồn và địa cầu vẫn tồn tại nhưng không tiến hóa lên được. Nên khi thể xác già yếu hoặc bị hư hoại linh hồn cần phải kiếm một thể xác khác để mà tiến hóa.

Linh hồn bao gồm kiến đại và thức đại nằm trên cùng, 2 thứ này thuộc về tâm thức là vọng tâm. Mà ta thấy càng lên những mắt xích phía trên trong cái sơ đồ thập nhị nhân duyên thì phần động tăng dần, phần hữu hình giảm dần. Nên ta thấy phần hữu hình của vọng tâm gần như bằng 0, còn phần động gần như là vô cực, vọng tâm vô cùng linh động và gần như vô hình nhưng một ý niệm của nó khởi lên liền có thể châu biến pháp giới. Nên nó có thể tạo ra cả hư không thế giới ở trong đó, nhưng đối tượng bên ngoài thì không thể thấy cái thế giới đó, nên Phật đặt nó cái tên là vô biểu sắc. Vì nó có sắc tướng nên trong vọng tâm lại xuất hiện ra 2 loại tham ái tương tự như 2 loại tham ái của chân tâm đó là cái Si Ái và Mê Chấp Đạo Lý. Cái vọng tâm này ta gọi nó là thần thức hay là linh hồn. Vì thế linh hồn có cùng một tính chất với vọng tâm là linh động dễ thây đổi, dễ biến hóa nên khó nắm bắt. Nếu chỉ có phần linh hồn thì nó sẽ biến hóa liên tục không sao mà nắm bắt được vừa có rồi lại mất, giống như Ngài khổng tử đã đặt một thuật ngữ chính xác dành cho nó là “Du hồn vi biến” nghĩa là cái phần hồn thì chu du khắp nơi, cực kỳ vi tế và biến hóa liên tục. Nó chuyển biến còn nhanh lẹ hơn cả dạng vật chất plasma ở trên mặt trời, còn hơn cả ánh sáng hơn cả các lực cơ bản trong tự nhiên.

Còn phần thể xác chủ yếu là các hợp chất hữu cơ trong đó địa đại chiếm phần nhiều nên nó rất dễ nắm bắt dễ nhận biết nhưng không thể tự di chuyển được, không thể sinh trưởng và phát triển được.

Vì thế mà nó cần phải có sự kết hợp giữa Linh hồn và thể xác với nhau mới có một sự chuyển hóa hài hòa và ổn định được thì nó mới có thể học hỏi và tu tập được, giống như mặt trời cần phải kết hợp với địa cầu thì mới có sự chuyển hóa một cách hài hòa và ổn định. Linh hồn đại diện cho phần động là phần kiến đại và thức đại, thể xác đại diện cho phần hữu hình là các hợp chất hữu cơ. Mà hợp chất hữu cơ lại bao gồm 4 đại là đất nước gió lửa nếu thiếu không đại là lực sống là trường sinh lực thì nó không thể kết hợp với nhau thành một cơ thể được huống chi là có thể sinh trưởng và phát triển. Giống như trên địa cầu cần phải có 2 đại trung gian là phong đại và thủy đại thì năng lượng từ ánh sáng mặt trời mới có thể tác động lên đất đá được như di chuyển phù sa xuống các vùng đồng bằng hoặc truyền các chất dinh dưỡng vào trong thân cây. Vì thế mà linh hồn cần phải có một cơ thể có đầy đủ 5 đại phía dưới kết hợp với nhau thì nó mới điều khiển cái thể xác đó được, mới có thể sinh trưởng và phát triển được. Và ngược lại một cái bào thai cần phải có linh hồn trong đó thì nó mới gọi là động vật được nếu thiếu thần thức thì nó chẳng khác gì là thực vật cả nghĩa là nó chỉ có thể sinh trưởng và phát triển như thực vật mà thôi không thể tự di chuyển được. Do đó mà có hiện tượng nhập xác, tuy xác của người khác nhưng 5 đại phía dưới vẫn còn kết hợp với nhau vẫn còn cái lực sống bên trong thì dù có thây thế bởi một linh hồn khác nó vẫn hoạt động được, còn khi chết không phải là hết mà do cái lực sống không còn, tứ đại ở dưới là không đại, hỏa đại, phong đại, thủy đại và địa đại không thể kết hợp được với nhau cái thể xác chỉ như một hợp chất hữu cơ mà thôi rồi từ từ phân rã, giống như chiếc máy tính nếu cái bộ vi xử lý hay cái bảng mạch bị hư thì chiếc máy tính không thể hoạt động được mặc dù ổ cứng chứa các bít mã hóa nhị phân vẫn còn nguyên vẹn, tương tự vậy bộ não hay lục phủ ngũ tạng nào mà hư hoại thì con người cũng không thể hoạt động được do sự kết hợp bị phá vỡ làm cho cái lực sống không còn thì mặc dù vọng tâm hay thần thức của nó vẫn còn, không hề bị hư hoại sứt mẽ gì. Hoặc khi cái lực sống yếu dần như khi về già nó cũng khiến cho sự kết hợp dần dần bị phá vở khiến cho các bộ phận trong cơ thể từ từ bị hư hoại theo nhưng thần thức vẫn không bị ảnh hưởng gì. Giống như ổ cứng một khi vẫn còn lưu giữ những thông tin của chiếc máy tính đó, nếu đem qua một chiếc máy tính khác, thì nội dung của nó vẫn y chang chiếc máy tính củ, chỉ có bề ngoài là có thây đổi thôi. Nhưng nội dung vẫn là những gì mà anh đã tích chứa ở cái máy tính trước. Tuy thần thức hay tâm thức vẫn là cái cũ, nhưng khi tái sanh thì chỉ có thân xác là mới còn tâm thức vẫn như trước không có gì thây đổi.

Tổng kết lại, ta thấy trong 7 đại mỗi đại thể hiện rõ một hoặc hai mắt xích nào đó trong 12 cái mắt xích nhân duyên, chúng tôi gọi đây là 12 nhân duyên thể hiện sự tiến hóa của các dạng tồn tại. Trong đó tâm thức gồm kiến đại và thức đại cũng tuân theo quy luật chuyển hóa 12 nhân duyên cũng gồm 12 mắt xích, chúng tôi gọi đây là 12 nhân duyên của sự chuyển hóa nội tâm. và sự chuyển hóa năng lượng trong các dạng vật chất cũng không ngoài quy tắc nhân duyên hòa hợp này chúng tôi tạm gọi đây là nhân duyên của sự chuyển hóa năng lượng. Để quý vị dễ hình dung về 3 loại nhân duyên này, chúng tôi đã kết hợp 3 loại nhân duyên này vào cùng một biểu đồ, cái ngoài cùng bên phải là phần tâm thức bao gồm kiến đại và thức đại đại diện cho 12 nhân duyên của sự chuyển hóa nội tâm, cái ở giữa là thực vật là không đại đại diện cho 12 nhân duyên của sự chuyển hóa năng lượng từ bên ngoài vào để nuôi dưỡng thực vật. Và cái bên trái là 4 đại còn lại là đất nước gió lửa đại diện cho nhân duyên của sự chuyển hóa năng lượng sự tương tác giữa các dạng vật chất với nhau.

Như ta thấy sự chuyển hóa năng lượng bởi sự tương tác giữa các dạng vật chất với nhau cũng không ngoài quy tắc nhân duyên hòa hợp mà sinh ra biến hóa nghĩa là mỗi dạng vật chất cũng có đầy đủ 10 mắt xích từ Vô minh cho tới hữu cũng hơi giống với 10 mắt xích của sự chuyển hóa năng lượng trên mặt trời vậy nên chúng tôi gộp lại làm một.

10 cái mắt xích của sự chuyển hóa năng lượng ở mỗi dạng vật chất như đất, nước, gió, lửa, ánh sáng còn thể hiện được tính chất lưỡng tính sóng hạt của vật chất. Như cái tính chất sóng là do 7 mắt xích đầu đảm nhiệm nó có tác dụng làm cho vật chất dao động và chuyển hóa, 3 mắt xích sau đảm nhiệm gìn giữ sự chuyển hóa do 7 mắt xích phía trên tạo ra. Sự gìn giữ này càng lâu thì dạng vật chất này càng ít biến đổi, càng dễ nắm bắt thì tính chất hạt càng rõ. Như đất đá thì tính chất hạt rõ ràng hơn tính chất sóng, và ánh sáng thì ngược lại, tính chất sóng lại rõ hơn tính chất hạt. Như vậy ta thấy sự chuyển hóa năng lượng ở vật chất vẫn có đầy đủ cả 10 mắt xích giống như 10 mắt xích của sự chuyển hóa nội tâm vậy. Nhưng có một vài mắt xích hơi khác .

Như mắt xích Hành ở động vật có ý nghĩa là hành động nó chỉ được phát ra khi nó có được cơ hội, như bạn muốn đi học nhưng không đủ tiền, hoặc không có trường học thì hành động này không thể thực hiện được, tuy động cơ thì có nhưng điều kiện không đủ nên hành động vẫn không xảy ra. Còn đối với mắt xích hành của vật chất thì hơi khác, nó còn tùy vào dạng vật chất nào, như chất rắn gần như không có sự thây đổi gì mà đa số đều do từ bên ngoài tác động vào như gió bão, lũ lụt. Còn ánh sáng ở trên mặt trời thì phát ra liên tục cho tới hàng tỷ năm nữa vẫn còn và tốc độ di chuyển của nó rất là lớn cỡ 300 ngàn km/s, nghĩa là sự vận hành của nó diễn ra liên tục và rất nhanh. Còn của chất rắn gần như không có, nó gần như đứng im một chổ, dao động rất ít và sự chuyển biến duy nhất mà nó có là tự phân rã đây là một đặc tính mà bất kỳ dạng vật chất nào cũng có. Thêm một sự khác nhau nữa đó là mắt xích “Sinh”, cái sinh ở động vật thì có sự chủ động của thần thức, nó có thể tự di chuyển được, vì như ta thấy thần thức gồm 2 phần là kiến đại và thức đại, nhìn vào sơ độ thập nhị nhân duyên ta thấy kiến đại và thức đại còn nằm cao hơn không đại là nơi sinh ra các lực cơ bản trong tự nhiên, nên thần thức không những có sự di chuyển cực nhanh, nhanh hơn cả các lực cơ bản hơn cả ánh sáng mà còn có sự nhận thức, sự chọn lựa, nó có thể di chuyển đến tận hư không khắp pháp giới để tìm ra được cái mầm sống mới và cái mầm sống này phải đủ 5 dạng vật chất là rắn, lỏng, khí, plasma, và trường sinh lực và phải tương ứng với cái nghiệp báo, cái phước phần của nó thì nó mới gắn kết được thần thức này vào cái mầm sống đó, nếu không có thần thức này mà chỉ có 5 dạng vật chất kia kết hợp với nhau, nếu nó có thể sinh trưởng được thì chẳng khác gì thực vật, vì không có phần thức thì làm sao cơ thể có thể hoạt động một cách linh hoạt được, sự linh động là không cố định không như các dạng chuyển động của vật chất như ánh sáng, hay dòng điện nên một cơ thể sống cần phải có đầy đủ 6 dạng tồn tại bao gồm đất, nước, gió, lửa, lực trường và thần thức kết hợp chặc chẽ với nhau thì mới gọi là động vật được. Còn của thực vật thì nó bị động hơn các hạt giống sẽ phụ thuộc vào động vật hoặc gió hoặc nước…đưa nó tới nơi nào thì nó nằm nơi đó. Còn chất vô cơ mắt xích “sinh” thì không có vì nó không có khái niệm cơ thể, một cơ thể là phải bao gồm nhiều bộ phận khác nhau có sự kết hợp với nhau rõ ràng, và mỗi bộ phận đảm trách một nhiệm vụ gì đó như rễ cây hút nước, lá thì quang hợp v.v..hợp chất vô cơ thì không có đặc tính này mà nó chỉ có sự chuyển biến thành trụ, hoại, không. Thành chính là mắt xích Thọ, trụ chính là mắt xích Hữu, hoại không chính là lão tử, không có mắt xích Sinh như vậy ta thấy vật chất có thêm 1 mắt xích nữa là hoại và không. Như vậy bất kỳ dạng vật chất nào cũng chỉ có 11 mắt xích mà thôi vì nó thiếu mắt xích sanh. Ngoài ra cái vô minh trong 11 nhân duyên của sự chuyển hóa năng lượng gọi là căn bản vô minh, khác với cái vô minh của 12 nhân duyên trong tâm thức chúng sanh hữu tình, để phân biệt với căn bản vô minh nhà Phật đặt nó cái tên là chi mạt vô minh hay còn gọi là cành ngọn vô minh là do những nhận thức sai lầm, vô ích và những hình bóng giả tạm, hư vọng được cất giữ trong tâm thức tạo ra nên còn gọi là kiến tư phiền não, chỉ cần đắc A la hán là đoạn trừ được, còn căn bản vô minh phải từ các vị pháp thân đại sỹ hay còn gọi là A Duy Việt Trí bồ tát mới bắt đầu đoạn trừ được.

Ngoài ra nó còn một mắt xích hơi khác đó là mắt xích Danh Sắc,  đối với 12 nhân duyên của sự chuyển hóa nội tâm mắt xích này được đổi lại thành Vô Biểu Sắc nghĩa là nó chỉ có ở dạng hình tướng, bóng dáng tồn tại trong tâm thức của ta mà thôi và không có hiện ra dạng vật chất để mà các giác quan của ta có thể biết được, 12 nhân duyên trong kinh điển thì không nhắc tới vô biểu sắc mà chỉ nhắc tới danh sắc và từ đó mà khiến biết bao vị tổ sư, đại đức bị suy dẫn một cách rối rắm, các mắt xích không ăn rơ gì với nhau do có một sự lầm lẫn ở mắt xích Danh Sắc này nên đã diễn dãi theo lối tam thế lưỡng trùng và cuối cùng là 12 nhân duyên của Đức Phật chỉ mang tính lý thuyết cũng có dính dáng về sự luân hồi nhưng cũng không lý giải được rõ ràng, minh bạch cho lắm nên cũng không giúp ích gì nhiều cho việc tu tập cả.

Phần tâm thức tuy vô hình, nhưng tính chất trong từng mắt xích của 12 nhân duyên của sự chuyển hóa vọng tâm bên trong cũng không khác gì mấy so với 12 nhân duyên của sự chuyển hóa năng lượng bên ngoài. Nó cũng có sự tăng giảm theo từng vị trí của nó trong sơ đồ 12 nhân duyên.  Càng lên cao thì cái tính chất thứ I tăng dần và cái thứ II sẽ giảm dần và ngược lại càng xuống thấp thì cái tính chất thứ II càng tăng dần và cái thứ I giảm dần. và từ tính chất của các dạng vật chất hữu hình bên ngòai lại giúp ta thấy rõ hơn bản chất của các dạng tâm lý vô hình bên trong giúp ta có thể chuyển hóa và nâng cao tâm thức của mình một cách dễ dàng hơn. Như chất rắn thì cứng chắc và dễ nhận biết hơn chất lỏng và chất lỏng ít linh định hơn chất khí nhưng dễ nhận biết hơn chất khí, và chất khí lại ổn định hơn plasma. Vì sự cứng chắc và ổn định của chất rắn nên nó ít chịu sự chuyển hóa, sự hòa nhập khi có sự tương tác giữa các sự vật với nhau nên ta thường hay dùng chữ va chạm đối với chất rắn, còn đối với chất lỏng, chất khí và ánh sáng thì ta dùng chữ giao thoa.  tính chất này cũng giống như con người, người nào mà Si Ái nhiều thì họ bám rất chặt vào những đối tượng mà họ tham luyến, họ khó hòa nhập khó chuyển hóa giống như chất rắn vậy và vì thế dễ gây ra đỗ vỡ khi có sự va chạm nào đó, dễ gây ra xung đột và chiến tranh. Nên Phật còn gọi Si Ái là phiền não chướng, là thứ gây ra cho con người nhiều phiền não, nên muốn bớt phiền não người tu hành cố gắng hạn chế cái Si Ái này càng nhiều càng tốt. Và ngược lại càng lên các mức cao hơn thì cái Si Ái giảm dần và cái Mê Chấp Đạo Lý tăng dần nên tính chất động hay tốc độ của sóng ánh sáng sẽ cao hơn sóng âm thanh và cao hơn sóng nước và ngược lại sự giao thoa của sóng nước dễ nhận biết hơn sóng âm thanh và dễ nhận biết hơn sóng ánh sáng, và trong các loại sóng thì sóng ý niệm là vi tế nhất, một ý niệm mà ta khởi lên có thể châu biến pháp giới, nếu ta biết sử dụng có thể tạo ra được những chuyện phi thường, mà nhiều người gọi nó là thần thông, là thứ mà khoa học ngày nay vẫn chưa chứng minh được tuy nhiên trong một bức thư gửi cho con gái của nhà bác học Arbet Einstain cha đẻ của nền khoa học hiện đại đã có hé lộ một điều gì đó về nó.

Sau hai thập kỷ kể từ ngày Albert Einstein qua đời, con gái ông đã đồng ý công bố bức thư cảm động mà nhà khoa học đại tài đã viết cho bà. Nội dung bức thư như sau:

Khi cha đưa ra Thuyết tương đối, rất ít người có thể hiểu được. Tương tự như vậy, điều mà cha sắp tiết lộ với nhân loại bây giờ đây rồi cũng sẽ vấp phải những hiểu lầm và thành kiến của mọi người.

Cha mong con giữ kín những bức thư này của cha hàng năm, thậm chí hàng thập kỷ nếu cần thiết, cho tới khi nào xã hội đủ tiến bộ để có thể chấp nhận những điều mà cha sẽ giải thích dưới đây.

Có một loại Lực vô cùng mạnh mẽ, mà cho tới nay khoa học cũng không thể tìm ra lời giải đáp chính xác dành cho nó. Lực này bao gồm và chi phối tất cả những lực khác. Nó thậm chí còn đứng sau bất kỳ hiện tượng nào được vận hành bởi vũ trụ mà chúng ta vẫn chưa thể lí giải. Đó chính là TÌNH YÊU.

Khi những nhà khoa học tìm kiếm một học thuyết chung cho vũ trụ, họ đã bỏ sót Lực vô hình nhưng mạnh mẽ nhất này.

Tình yêu là Ánh sáng chiếu rọi những người biết trao và nhận nó.

Tình yêu là lực hấp dẫn, bởi nó khiến người ta có thể bị cuốn hút bởi một ai đó.

Tình yêu cũng chính là sức mạnh, bởi nó sinh sôi, nảy nở và giúp con người không bị vùi dập bởi sự ích kỷ mù quáng.

Tình yêu hé lộ và gợi mở.

Vì tình yêu chúng ta sẵn sàng sống, và hy sinh.

Tính yêu chính là Thượng đế, và Thượng đế cũng chính là Tình yêu.

Thứ lực này giải thích cho tất cả mọi điều và mang ý nghĩa đến cho cuộc sống.

Để có một hình ảnh tượng trưng cho tình yêu, cha đã thực hiện một sự thay thế đơn giản trong phương trình nổi tiếng nhất của mình. Thay vì sử dụng công thức E = mc2, ta chấp nhận rằng, năng lượng hàn gắn thế giới có thể đạt được bằng tình yêu được sản sinh với tốc độ ánh sáng bình phương, thì chúng ta hoàn toàn có thể đi đến kết luận: Tình yêu chính là một lực mạnh vô song, bởi nó không hề có bất kỳ giới hạn nào.

Sau những sai lầm của nhân loại trong việc sử dụng và điều khiển những nguồn lực trong vũ trụ dẫn tới phản tác dụng, đã đến lúc chúng ta phải nuôi dưỡng mình bằng một loại năng lượng khác…

Nếu loại người muốn tồn tại, nếu ta muốn tìm ý nghĩa của sự sống, nếu ta muốn bảo vệ thế giới và tất cả những loài hữu tình khác, Tình yêu chính là câu trả lời đầu tiên và duy nhất.

Có thể chúng ta chưa sẵn sàng để chế tạo một quả bom tình yêu, một thiết bị đủ mạnh để hoàn toàn phá huỷ sự ghét bỏ, ích kỷ và tham lam đang tàn phá hành tinh này. Nhưng mỗi cá nhân vẫn luôn mang trong mình một chiếc máy phát tình yêu vô cùng mạnh mẽ và luôn sẵn sàng để được giải phóng.

Lieserl con yêu, khi chúng ta học cách cho và nhận nguồn năng lượng vũ trụ này, chúng ta phải thừa nhận rằng tình yêu có thể chinh phục tất cả, vượt qua bất kỳ chướng ngại nào, bởi tình yêu chính là tinh tuý của sự sống.!”

Qua bức thư ta thấy Einstanh muốn nói về một thứ tình yêu rất lạ là thứ Lực bao gồm và chi phối tất cả những lực khác. Nó thậm chí còn đứng sau bất kỳ hiện tượng nào được vận hành bởi vũ trụ mà các nhà khoa học vẫn chưa thể lí giải. Khi những nhà khoa học tìm kiếm một học thuyết chung cho vũ trụ, họ đã bỏ sót Lực vô hình nhưng mạnh mẽ nhất này. Thứ lực này giải thích cho tất cả mọi điều và mang ý nghĩa đến cho cuộc sống. Và mỗi cá nhân vẫn luôn mang trong mình một chiếc máy phát tình yêu vô cùng mạnh mẽ này và luôn sẵn sàng để được giải phóng. Cái thứ Lực bí ẩn này phải chăng là niệm lực. Và ta thấy khi nghiên cứu càng sâu vào thế giới vi mô con người càng phát hiện ra được những nguồn năng lượng càng lớn như dòng điện tuy nhỏ bé nhưng có thể điều khiển những cổ máy khổng lồ, và sâu hơn nữa là hạt nhân nguyên tử vô cùng nhỏ nhưng nó có thể phá hủy một thành phố trong tích tắc, và bây giờ là ý niệm liệu nó có thể làm được điều gì, phải chăng là cái mà người ta gọi là thần thông, nhưng tại sao trong kinh Phật ngài lại không chú trọng đến thần thông, vì như ta thấy trong ý niệm, linh hồn, thần thức hay vọng tâm cái Mê Chấp Đạo Lý là cao nhất trong tất cả các dạng vật chất cao hơn cả các lực cơ bản trong tự nhiên nên sự linh động, sự biến hóa và sức mạnh của nó cũng khó mà nghĩ bàn có thể đúng như ngài Einstein đã tiên đoán. Nhưng trong kinh thủ lăng nghiêm Phật có nói rằng “Vì do vọng tưởng của các ngươi mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm, từ đó sanh ra si ái, si ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không, sự mê chấp tiến hóa không ngừng, nên sanh ra thế giới, vậy thì mười phương vô số quốc độ đều do vọng tưởng kiến lập”. Cái vọng tưởng này chính là sự mê chấp đạo lý, đây là sự mê chấp đạo lý của chân tâm nên nó mới có được cái năng lực phi thường như vậy, nhưng dù phi thường tới đâu, dù cao tới mức nào mà không phải là điều chân thật thì Phật Pháp đều phải buông xã. Cái mê chấp đạo lý của chân tâm còn phải buông xả huống chi là cái mê chấp đạo lý của vọng tâm, lại càng phải buông xả hơn nữa. Cái mê chấp đạo lý của vọng tâm này là gì đó chính là cái kiến thức, nhận thức cái ý thức của ta nó chỉ giúp con người biết sáng tạo biết vận dùng các quy luật tự nhiên nhằm nâng cao đời sống vật chất của con người. Nhưng khi nâng cao đời sống vật chất mà không nâng cao trí tuệ hiểu biết về mặt tinh thần thì nó sẽ làm tăng thêm lòng tham ái của con người khiến cho dục vọng của con người càng ngày càng tăng trưởng. Đây là nguyên nhân chính khiến xã hội càng ngày càng động loạn, con người tuy sung sướng hơn về mặt vật chất nhưng về mặt tinh thần thì càng ngày càng sa sút. Nên sự mê chấp đạo lý của vọng tâm không chỉ là một chướng ngại lớn trong việc buông bỏ được cái vọng tâm mà còn gây ra nhiều tác hại cho xã hội cho môi trường. Như Đức Lão Tử có nói rằng “cái tự nhiên bao giờ cũng có lợi chớ không có hại. Đã thế thì cứ phó mặc cho tự nhiên làm việc. Nhúng tay vào guồng máy thiên nhiên, không khỏi mang họa vào mình. tức là không can thiệp vào tự nhiên, để con người sống theo tự nhiên và cùng với tự nhiên tiến hóa”. Đức Lão Tử còn nói rằng: Đạo thường không làm (tức là thuận với lẽ tự nhiên), nhưng không cái gì mà nó không làm. Trong Trời Đất, cái gì cũng có nguyên nhân. Có sống  mới có chết, có làm  mới có thất bại, có cạnh tranh  mới có người cạnh tranh với mình. Muốn được bình yên vô sự thì đừng cạnh tranh, mình không tranh thì thiên hạ không ai cạnh tranh với mình. Chủ nghĩa Vô Vi là làm thế nào mà trừ được những nguyên nhân sinh ra những điều có hại thì mới tránh được tai họa?

Lão Tử nói thêm: Thánh vương không nên làm cho dân sáng mà làm cho dân ngu. Chữ “ngu“ ở đây có nghĩa đặc biệt như câu: Đại trí nhược ngu. Cái ngu của bực Thánh nhân là đại trí. Cái ngu của dân ở đây là không tham vọng, sống giản dị tự nhiên.

Nên nhiều tôn giáo phương đông không chú trọng phát triển khoa học kỷ thuật, không muốn giáo dục những tri thức kiến thức cho con người là vậy, nhà Phật thì gọi những thứ này đều là sở tri chướng đều là chướng ngại, vì những tư duy, kiến thức này đều xuất phát từ sự mê chấp đạo lý của vọng tâm mà ra, mà đã là hư vọng thì đều chướng ngại con người tiếp cận tới chân lý sự thật. Nhưng buông bỏ được cái mê chấp đạo lý của vọng tâm thì chỉ lên được những cảnh giới cao nhất trong lục đạo luân hồi mà thôi, muốn cao hơn nữa phải buông bỏ cả vọng tâm thì mới thoát ra khỏi lục đạo luân hồi, còn để thoát ra khỏi 10 pháp giới tức là vượt lên khỏi Tứ Thánh Pháp Giới nữa chúng ta phải phá tiếp 11 cái nhân duyên của chúng sanh vô tình là cái hệ thống do mê mất chân tâm gây ra thì lúc đó mới về được pháp giới nhất chân.

khi thoát ra khỏi lục đạo luân hồi tức là không còn bị phần đoạn sanh tử nữa nghĩa là không còn chịu cảnh khó chịu khi mất thân này để mà phải tìm thân khác, nhưng vẫn còn biến dịch sanh tử giống như vật chất có sự chuyển hóa trạng thái từ rắn sang lỏng, từ lỏng sang khí từ khí sang plasma…có nghĩa là không còn có khái niệm sanh tử như ở động vật nữa. Cái vọng tâm này giống như các bít mã hóa nhị phân cất chứa trong ổ cứng vậy, nếu máy tính không có sử dụng cái công nghệ mã hóa nhị phân này thì nó trở thành một thiết bị điều khiển mà thôi. Và sự biến dịch sanh tử này là sự chuyển biến của tinh thần từ cảnh giới Thanh Văn lên Duyên Giác bằng việc buông bỏ tập khí chấp trước lúc này cái hữu mới gọi là sạch sẽ, không còn một tí vọng tâm nào, rồi từ Duyên Giác lên Bồ Tát bằng sự buông bỏ tâm phân biệt chính là cái Mê Chấp Đạo Lý của chân tâm và từ Bồ Tát lên quả vị Phật trong 10 pháp giới là nhờ buông bỏ tập khí tâm phân biệt, cái tâm phân biệt này hoạt động giống như cái bộ vi xử lý của các thiết bị điều khiển vậy, nếu các thiết bị điều khiển mà bỏ mất bộ vi xử lý thì nó hoạt động chẳng khác gì một cái tivi. Muốn thoát ra khỏi mười pháp giới thì phải buông bỏ vọng tưởng là cái căn bản vô minh là phần năng lượng lúc đó mới có thể thoát ra khỏi 10 pháp giới, cái vọng tưởng này cũng giống như các cuộn băng lưu những bộ phim của các đài truyền hình vậy, nếu bỏ hết mấy cái cuộn băng này đi, thì các đài truyền hình chẳng có gì để mà phát, thì cái màn hình của tivi sẽ trống không lúc đó mới là thấy được cái bản thể của những hình ảnh hiện trên cái màn hình đó lúc đó mới là phá được một phần vô minh chứng được một phần pháp thân, tới lúc này họ mới được gọi là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Đây là hướng đi của các pháp môn thông thường mà nhà Phật gọi là nan hành đạo là con đường tu tập rất gian nan và rất lâu dài mới có thể buông bỏ được cái phần Năng Lượng này. Trong khi đó pháp môn Tịnh Độ chỉ cần chúng sanh nào từ phàm phu cho tới các loài động vật, ngã quỹ hay các chúng sanh dưới địa ngục một khi được vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc thì liền không còn phụ thuộc vào phần Năng Lượng này nên cũng được gọi là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Nên pháp môn Tịnh Độ còn gọi là pháp môn Dị Hành Đạo, Dị là dể dàng thẳng tắt.  Cho đến khi hết được tập khí của căn bản vô minh tức là phần năng lượng hoàn toàn sạch sẽ không còn dính một chút tàng thức nào nữa lúc này mới là đắc được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Khi ta đã minh tâm kiến tánh rồi thì lúc đó mới có thể kiến lập được cảnh giới Tịnh Độ mới có thể phổ độ được chúng sanh, Và có thể làm được những chuyện phi thường hơn nữa như trong Kinh Duy Ma Cật có nói rằng “‘Trụ trong giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, Bồ Tát bứt lấy một tam thiên đại thiên thế giới như thợ đồ gốm [véo lấy một miếng đất sét], đặt trong bàn tay phải rồi ném khỏi hằng sa thế giới nhưng chúng sanh trong thế giới ấy chẳng biết, chẳng hay nơi mình đang trụ. Lại đem đặt trả về chỗ cũ, khiến cho chúng sanh đều chẳng có ý tưởng là [thế giới] bị đem đi hay trả lại, mà bổn tướng của thế giới này vẫn như cũ’ và: ‘Bồ Tát đem chúng sanh trong một cõi Phật đặt trong bàn tay phải, bay đến mười phương, hiện bày khắp hết thảy nhưng chẳng lay động bổn xứ’. Trụ trong giải thoát chẳng thể nghĩ bàn cũng chính là buông xả hết tất cả những vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mới có thể giải thoát, như Kinh Hoa Nghiêm Phật nói “Tất cả chúng sanh đều có trí huệ đức tướng Như Lai, do vì vọng tưởng chấp trước mà không được chứng đắc”.

Thập Nhi Nhân Duyên là rất quan trọng nếu không vận dụng được nó trong việc hành trì và tu tập tức là ta đã hiểu sai về nó. Nên trong bài chia sẽ lần sau chúng tôi sẽ trình bày những phương pháp có thể giúp chúng ta ứng dụng được 12 mắt xích này trong việc tu tập nhằm chuyển hóa và nâng cao tâm thức của mình. Như vậy, mới có thể thấy được sự lợi ích của pháp thập nhị nhân duyên mà Đức Phật đã tìm ra và truyền lại cho nhân loại.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *