DUYÊN KHỞI, GIÁO PHÁP TINH YẾU VÀ CỐT TỦY CỦA ĐẠO PHẬT TẬP 2 P 3

Duyên Khởi Tập 2 – Phần 3

Trong 2 bài chia sẽ lần trước chúng tôi đã đưa ra nhiều hình ảnh ví dụ nhằm giúp mọi người hình dung rõ hơn về chức năng của từng mắt xích trong thập nhị nhân duyên. Hôm nay, chúng tôi sẽ đi vào công dụng thực sự của từng mắt xích nó có ý nghĩa như thế nào đối với sự hành trì và tu tập của chúng ta. Thập Nhi Nhân Duyên là rất quan trọng nếu không vận dụng được nó trong việc hành trì và tu tập tức là ta đã hiểu sai về nó, để nhấn mạnh điều này Đức Thế Tôn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhất là trong các bộ kinh thuộc “Phật Giáo Nền Tảng”.

Duyên khởi là giáo pháp tinh yếu, cốt tủy của đạo PhậtĐức Phật sau khi thành Đạo dưới cội Bồ-đề, Ngài đã để dành bảy ngày đầu tiên để chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát. Trong đêm cuối cùng của bảy ngày ấy, Ngài quán xét Thập Nhị Nhân Duyên

Pháp Nhân duyên này đã được như lai giác tri và vì vậy như lai đã thành bậc chánh đẳng chánh giác và đem diễn nói cho người khác, dù thế tôn có xuất hiện hay không xuất hiện trên thế gian này thì pháp nhân duyên này vẫn thường trụ ở trong pháp giới.

“Này Anandà! Giáo lý duyên khởi này sâu xa, và có vẻ sâu xa hơn. Chính vì không hiểu rõ, không thâm nhập giáo lý này, mà nhân loại trở nên như cuộn chỉ rối rắm, như ổ kiến rối, như cỏ babaja, không thể thoát ly khỏi khổ xứ, ác thú, địa ngục và sanh tử

Một vị thầy tu theo Phật giáo muốn tu tập tâm Vô Lậu mà không thông suốt 12 nhân duyên thì không thể tu hành tâm Vô Lậu được.

Một vị thầy tu theo Phật giáo muốn tu tập tâm Giải thoát mà không thông suốt 12 nhân duyên thì không thể tu hành tâm Giải thoát được. 

Ai mà thấy được pháp nhân duyên này tức là thấy như lai.

Mắt xích đầu tiên mà chúng ta cần chú ý tới đó là mắt xích Lão, Tử. Mắt xích này có ý nghĩa như thế nào xin mời quý vị cùng xem tiếp.

Con người khác với con vật ở chổ họ có ý thức có tư duy, từ sự ý thức tư duy này mà loài người đã khám phá ra được các quy luật tự nhiên như hiện tượng chuyển hóa năng lượng nhờ vậy đời sống vật chất của loài người được cải thiện, hoặc loài người khám phá ra được các quy luật xã hội như các đạo lý: ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức không những giúp xã hội được an định, mà còn giúp nhân sinh được hạnh phúc như các thời đại phong kiến trước kia thường áp dụng đạo nho vào công việc trị quốc, an dân. Khi nhà nhà người người được an định được hạnh phúc thì nhân loại tiến thêm bước nữa là nhu cầu trường sinh bất tử, nhu cầu liễu sanh thoát tử. Đây không chỉ là mục tiêu của đạo Lão mà còn của nhiều tôn giáo khác trên thế giới. Vào những thời đại trước kia mục tiêu đi tìm trường sinh bất tử, ước vọng tới một cuộc sống vĩnh hằng, nhu cầu liễu sanh thoát tử là một nhu cầu phổ biến trong nhân loại, vì thế mà có rất nhiều các bậc thánh, các bậc đạo sư ở khắp các tôn giáo trên thế giới ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu này cho nhân loại. Nhưng ngày nay dưới ảnh hưởng của khoa học kỷ thuật tạo ra nhiều của cải vật chất khiến nhân loại đắm chìm trong dục vọng, trong sự đam mê khiến con người đánh mất đi cái phần người của mình, họ không còn tâm trí để tiến tới một khát vong to lớn hơn vĩ đại hơn mà suốt ngày bị bao quanh bởi những âu lo về cơm áo gạo tiền về những dục vọng thấp hèn để rồi đánh mất đi cơ hội hy hữu được làm người của mình. Mục tiêu chính yếu nhất mà chỉ có loài người mới có thể làm được đó là gì đó là khả năng ý thức được cái chết và loại bỏ cái chết.

Dưới ảnh hưởng rộng lớn của chủ nghĩa duy vật loài người đang từ từ đánh mất đi năng lực tâm linh của mình, nhiều người nghĩ rằng con người cũng chỉ là một sự tiến hóa về mặt vật chất, rồi phải tuân theo những quy luật của vật chất mà họ không ý thức được loài người là một loại sinh vật cấp tiến nhất trong vũ trụ cái cấp tiến này không phải ở mặt thể xác mà là ở mặt tinh thần mặt tâm thức nên chỉ có loài người mới có khả năng vượt thoát ra khỏi các quy luật của tự nhiên. Nên ở các nước phương Đông có câu nói rằng “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” nghĩa là khi con người đắc được thiền định khai mở được trí tuệ họ có thể vượt qua khỏi các quy luật tự nhiên như sinh lão bệnh tử. Nếu chỉ xem mặt tinh thần phần tâm thức chỉ như là các phản ứng của các dây thần kinh thì loài người đã đánh mất đi phần thiêng liêng của chính mình từ đó mà dễ dàng chạy theo các dục vọng của vật chất rồi từ từ đánh mất đi cái phần người của mình rồi từ từ sa đọa mà không hề hay biết. Nhưng rất may là gần đây có một số nhà khoa học dựa vào các hiện tượng đặc biệt của vật lý lượng tử đã bắt đầu nghiên cứu lại cách hoạt động của ý thức bên trong não bộ của con người

Năm 2012, hai nhà khoa học vật lý lừng danh thế giới là tiến sỹ Stuart Hameroff (Mỹ) – Giáo sư danh dự thuộc khoa Gây mê và Tâm lý, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ý thức, Đại học Arizona và giáo sư Roger Penrose là một nhà vật lý, nhà toán học và triết học người Anh. Ông hiện là Giáo sư danh dự tại Viện Toán học của Đại học Oxford, cũng như ủy viên danh dự của Wadham College. (Anh) – đã gây xôn xao trong cộng đồng khoa học khi phát triển một học thuyết lượng tử về nhận thức. 

Trong học thuyết này, linh hồn được coi là một phần của cấu trúc mà nhóm nghiên cứu gọi là vi ống – một tổ chức siêu nhỏ trong tế bào não.

Ý tưởng này bắt nguồn từ ý niệm rằng não là một máy tính sinh học với hàng tỷ neuron; kết nối sợi trục, khớp nối thần kinh hoạt động như một hệ thống thông tin hoàn chỉnh.

Theo học thuyết được các nhà khoa học Stuart Hameroff và Roger Penrose bắt đầu nghiên cứu từ năm 1996 thì ý thức là kết quả của quá trình hấp dẫn lượng tử bên trong vi ống. 

Điều này được thể hiện rõ khi con người trải nghiệm trạng thái chết lâm sàng. Khi đó, các vi ống mất trạng thái lượng tử, nhưng thông tin chứa trong nó thì không hề bị phá hủy. Hai tiến sỹ cho rằng, linh hồn không hề chết đi mà chỉ đi vào vũ trụ.

“Khi trái tim ngừng đập, máu ngừng chảy, các vi ống mất đi trạng thái lượng tử, tuy nhiên thông tin trong vi ống không và không thể mất đi. Nó chỉ phân phối và tiêu tán vào vũ trụ. 

Khi bệnh nhân tỉnh lại, hồi sinh, các thông tin lượng tử này có thể quay lại các vi ống. Nếu họ chết, các thông tin lượng tử có thể tồn tại ngoài cơ thể – dưới dạng một linh hồn” – tiến sỹ Hameroff cho hay.

Trước, trong và sau khi học thuyết lượng tử về nhận thức ra đời, rất nhiều nhà khoa học tin vào thực tế là linh hồn tồn tại.

Richard Swinburne – nhà triết học tôn giáo của Trường Đại học Oxford, Anh, tác giả của cuốn sách “Lý trí, bộ não và sự tự do của ý chí” – đã lên tiếng bảo vệ sự tồn tại của linh hồn: 

“Để miêu tả toàn bộ thế giới này, bạn cần kể tới cả chủ thể của các trải nghiệm, không chỉ qua những trải nghiệm, qua cơ thể vật lý mà còn qua những vật thể tinh thần riêng rẽ mà chúng ta gọi là linh hồn. Bởi nếu không, bạn sẽ không thể mô tả được đời sống ý thức của họ ra sao”.

Theo Swinburne, nếu chỉ có cơ thể và trí não, chúng ta sẽ chỉ là những chủ thể giống nhau. Tuy nhiên trên thực tế, chúng ta hoàn toàn khác nhau, nên chắc hẳn phải có một phần quan trọng nào đó tạo ra sự rạch ròi và chúng ta có thể gọi đó là “linh hồn của tôi”.

Linh hồn có thể không tự vận hành mà phải liên kết với một cơ thể. Khi đó, sự sống có thể tiếp diễn nếu như linh hồn nhập được vào cơ thể nào đó một lần nữa” – ông nói.

“Sự khác biệt giữa các linh hồn là không thể giải thích. Linh hồn là đặc thù phi vật chất. Nó có tính cách, đặc tính của riêng mình. Linh hồn cũng sở hữu suy nghĩ, cảm xúc, thái độ… Cách duy nhất để chúng thể hiện ra là thông qua sự gắn kết với cơ thể sống “.

Nhà vật lý học lý thuyết Henry Stapp – Đại học California – Berkeley, Mỹ nói: “Niềm tin vào linh hồn không phải là không có căn cứ khoa học. Linh hồn là sự độc lập về nhân cách của trí não hay phần sống sót còn lại của cơ thể sau khi chết”.

Còn Giáo sư, tiến sỹ Hans-Peter Dür – nguyên Giám đốc Viện Vật lý Max Planck, Munich, Đức – cho rằng: “Sự tồn tại song song giữa cơ thể và linh hồn cũng chân thực như sự tồn tại song song của sóng và hạt vật chất nhỏ nhất”.

Theo vị giáo sư này, trạng thái lượng tử của vũ trụ tồn tại ở cả vật thể sống và chết, dẫn tới sự tồn tại sau khi chết. “Chúng ta mới chỉ nhìn thấy khía cạnh vật chất của thế giới này. 

Thứ tạo ra thế giới nằm ở ngoài khía cạnh vật chất và nó lớn hơn rất nhiều so với thế giới này. Theo cách này, cuộc sống hiện tại của chúng ta đang được bao bọc bởi cuộc sống sau khi ta chết”.

“Sẽ thật là sai lầm nếu chúng ta loại bỏ linh hồn khỏi tự nhiên” – nhà vật lý hạt nhân đồng thời là nhà sinh học phân tử Jeremy Hayward – thuộc Đại học Cambridge, Anh – cho hay.

Nhà vật lý và là giáo sỹ John Polkinghorne định nghĩa linh hồn là phần mang thông tin bên trong hạt nhân. Phần linh hồn này sẽ không bị thối rữa khi chúng ta chết mà “sẽ được Chúa dùng để tái sinh”.

 

Nhìn vào lịch sử nhân loại ta thấy Trung Quốc, Ấn Độ có diện tích và dân số đông nhất thế giới, căn nguyên chính là nhờ 2 quốc gia này đã thừa kế được những nền giáo dục đúng đắn, những nền giáo dục này căn bản đều dựa trên nguyên tắc làm sao phát triển được phần nhân cách là phần người càng ngày càng hoàn thiện còn phần con làm sao giảm nó xuống tới mức thấp nhất, thì phần người mới có thể phát huy được tác dụng. phần con là những bản năng tự nhiên như nhu cầu sinh tồn, nhu cầu tình dục, nhu cầu thỏa mãn dục vong, ngũ dục, lục trần. Còn phần người là phần ý thức, phần nhận thức là khả năng nhận biết về các quy luật của tự nhiên, quy luật của tâm thức. Nhưng đáng tiếc xã hội ngày nay đa số đều đồng hóa mặt tinh thần như là các kích thích tại các dây thần kinh vật chất, nên bây giờ con người chỉ biết theo đuổi vật chất, chú trọng vào việc ăn uống quá nhiều mà quên lãng đi mặt tinh thần khiến cho đời sống tinh thần của con người càng ngày càng xuống cấp. Nên xã hội bây giờ càng ngày càng động loạn con người chỉ biết tranh giành nhau về mặt vật chất làm sao tạo ra được càng nhiều của cải vật chất càng tốt, còn mục tiêu liễu thoát sanh tử trở thành những mục tiêu viễn vong những ước vọng hảo huyền, không thực tế. Từ đó mà những tôn giáo trên thế giới trở thành những thứ mê tín dị đoan. Ngay cả đạo nho, đạo lão cũng bị biến thành tôn giáo. Đạo nho tuy chưa đề ra mục tiêu liễu thoát sanh tử nhưng nó lại chú trọng về mặt tinh thần mặt hạnh phúc nhân sinh dựa trên những luân thường đạo lý, lễ nghĩa liêm sỹ, nhằm kìm hãm cái phần dục vọng trong cái phần con của con người. Khi phần con được giảm xuống thì phần người là phần tinh thần được thăng hoa thì nhu cầu trường sinh bất tử mới được chú ý tới, vì thế mà đạo lão và Phật Giáo Đại Thừa đã phát triển được trên mãnh đất Trung Hoa nói riêng và các nước đông á nói chung. Nhưng một khi chủ nghĩa duy vật phát triển, phần tinh thần bị đồng hóa thành một dạng hoạt động của não bộ phần tinh thần không còn được chú ý tới thì đạo nho trở thành những giáo lý dư thừa, một khi đạo nho không còn thì đạo lão với những phép tu tiên, hay tu đạo, luyện linh đơn, phép dưỡng sinh thái cực, hay những bài yoga thần bí hoặc thế giới thần tiên, thiên đàng, nước chúa, hay thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà đều trở thành những câu chuyện thần thoại hư cấu. Như khi còn nhỏ tinh thần còn trong sáng ai mà không từng mơ ước mình được trường sinh bất tử, nhưng khi lớn lên tinh thần càng lúc càng vẫn đục thì ước mơ này dần đi vào quên lãng. Các tôn giáo trở thành những thứ mê tín dị đoan. Nên trước hết muốn con người nuôi lại được cái ước mơ trường sinh bất tử thì chúng ta cần phải làm cho phần tinh thần được thăng hoa lên nghĩa là làm sao cho cái phần con phải bị tiêu trừ càng nhiều càng tốt. Nên HT Tịnh Không đang kêu gọi thế giới xây dựng lại nếp sống gia giáo của nho gia và niềm tin về luật nhân quả của đạo lão mới giúp con người kìm hãm cái phần con này lại. Nhưng ngày nay khoa học và công nghệ phát triển vượt bậc nền giáo dục của nhiều quốc gia á đông đã thây đổi, đại đa số được tiếp cận nền giáo dục khoa học từ nhỏ nếp tư duy logic, lối sống thực dụng, phóng khoáng và sự mất niềm tin vào những gì thiếu cơ sở khoa học đã ăn sâu vào tâm thức của con người ngày nay. Khoa học tuy đã tiến bộ rất nhiều nhưng vẫn còn nhiều hạn chế vẫn còn nhiều thứ khoa học chưa chứng minh được chẳng hạn như luật nhân quả báo ứng, mặc dù vật lý lượng tử đã giải thích được luật nhân quả báo ứng nhưng chưa đủ cơ sở để chứng minh nên các nhà khoa học chưa dám công bố cho thế giới biết và điều này là điều không may cho đạo Lão. Nhưng đối với Phật Giáo Nền Tảng thì sao, như ta biết bản chất của khoa học hiện nay là mô tả những nguyên lý hoạt động của sự chuyển hóa năng lượng còn Phật Giáo Nền Tảng lại mô tả những quy luật hoạt động của sự chuyển hóa nội tâm nhờ cái điểm chung này mà Phật Giáo Nền Tảng đã không bị ảnh hưởng nhiều. Và rất may mắn là Phật Giáo Nền Tảng hay Phật Giáo Tiểu Thừa tại các nước như Srilanka, miến điện, thái lan, lào, campuchia vẫn được các quốc gia này sử dụng làm quốc giáo. Nhờ vậy mà pháp thập nhi nhân duyên vẫn còn được lưu truyền cho tới ngày nay. Vào thời đức Phật mục tiêu mà Đức Phật đi tu cũng như các tôn giáo khác thời bấy giờ là muốn liễu sanh thoát tử, nên mắt xích lão tử được ngài đề cập tới đầu tiên và cũng là mục tiêu cuối cùng cần phải đạt được. Nhưng ngày nay hầu như không ai còn hướng tới mục tiêu trường sinh bất tử nữa huống chi là khái niệm liễu sanh thoát tử, nghe qua càng thấy khó hiểu hơn. Nhưng pháp duyên khởi chủ yếu là giúp chúng sanh liễu thoát sanh tử, nên chúng tôi không thể không đề cập trước tiên. Còn khái niệm trường sinh bất tử thường gắn liền với những người tu tiên với các phép tu luyện như luyện yoga, luyện linh đơn, luyện khí công, khai mở luân xa… nhằm kéo dài tuổi thọ có thể lên tới hàng ngàn hàng vạn tuổi. Nhưng dù kéo dài tới bao lâu đi chăng nữa cũng phải tới lúc già và chết. Như kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật có nói rằng “A Nan, các vị ấy đều ở trong loài người mà luyện tâm, tuy không tu chính giác, nhưng riêng được lẽ sống, thọ ngàn vạn tuổi, nghỉ ở trong núi sâu hoặc trên đảo giữa bể cả, cách tuyệt chỗ người ở; đó cũng là vọng tưởng luân hồi lưu chuyển. Nếu không tu phép Tam muội, thì khi quả báo hết rồi, trở lại tản vào trong lục đạo”. Nên muốn không bị lão tử cách duy nhất là đừng tái sanh vào bất kỳ cảnh giới nào. Mà theo pháp thập nhị nhân duyên cho ta thấy rằng có sinh là do có hữu, cái hữu này chính là phần tâm thức phần linh hồn phần vọng tâm, một khi còn cái phần này thì chắc chắn phải có sinh. Những tôn giáo tín ngưỡng đương thời họ cũng biết rằng trong thể xác còn có phần khác là phần linh hồn và họ cho rằng linh hồn mới là cái chủ tể là cái gọi là ta là cái chân thật bất biến, thể xác chỉ là cái áo khoát của nó mà thôi nên nhiều tôn giáo không chú trọng tới việc kéo dài tuổi thọ, theo đuổi ước mơ trường sinh bất tử, mà thây vào đó là họ tìm cách gột rữa linh hồn, một khi linh hồn được trong sạch mới có thể nhận lãnh sự sống đời đời của Thiên Chúa. Nên ta thấy bên các tôn giáo tín ngưỡng thường hay có phép rữa tội, phép cứu rỗi. họ tin rằng sau khi được rữa tội linh hồn mới được trong sáng trở lại còn không sẽ phải vĩnh viễn phải sống trong tội lỗi. Khi linh hồn bạn trong sáng hơn mới giúp bạn tái sinh vào những cảnh giới tốt đẹp hơn. Nhưng một khi có sinh là sẽ có tử ngoài cái khổ do lão tử ra nhà Phật còn cho ta thấy còn 6 cái khổ nữa một khi sinh ra trên thế gian này dù cõi trời hay cõi người cũng khó mà thoát khỏi 6 cái khổ này. Đó là cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ, sinh khổ và bệnh khổ. Nên có những tôn giáo cấp tiến hơn họ đã nhận ra rằng “Ta có tai họa vì ta có thân” như Lão Tử đã từng nói. Cái ta mà Lão Tử nói đây chính là phần linh hồn một khi linh hồn không đi đầu thai thì cái linh hồn này tồn tại trong một cảnh giới được gọi là vô sắc giới là cảnh giới mà ở đó không có sắc chất chỉ có phần tâm thức mà thôi.  Mặc dù bằng sức thiền định họ có thể kiềm hãm được sự tái sanh của linh hồn nhưng sức thiền đinh cao nhất là cõi trời phi tưởng phi phi tưởng xứ sức định của họ có thể kéo dài tới tám mươi bốn ngàn đại kiếp, một đại kiếp là một chu kỳ thành trụ hoại không của một dãi ngân hà. Dù có lâu dài tới đâu rồi cũng phải tới lúc linh hồn phải nương tựa vào thể xác vì linh hồn cũng chỉ là một dạng tồn tại do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra nên nó không có chủ tể nghĩa là dù bạn có định lực sâu cở nào bạn cũng không thể nào điều khiển được nó, nó cũng phải vận hành theo cái hệ thống của nó nghĩa là một khi có linh hồn thì ắt phải có sanh, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Nên mắt xích Hữu duyên cho Sinh là một khám phá là một bước ngoặc vĩ đại  đưa nhân loại tiến lên một nấc thang mới, giúp con người vĩnh viễn thoát khỏi những khổ nạn do cái thân này mang lại.

Những tôn giáo thời Đức Phật họ cho rằng cái linh hồn này là ta là cái chân ngã vĩnh hằng bất biến dù có mất thân này đi tìm một cái thân khác thì những tội lỗi mà ta đã tạo những thứ làm tiêm nhiễm ta vẫn không thể gột sạch được, phải nhờ một đấng toàn năng, đấng sáng tạo ra ta là đấng duy nhất có quyền năng tối thượng mới có thể gột rữa được cái linh hồn đó, hoặc  phải nhờ một dòng nước linh thiêng như sông hằng gột rữa nó thì nó mới trong sạch được còn không thì nó phải sống trong tội lỗi, không chỉ là những tội lỗi kiếp này mà còn của nhiều kiếp trước mà một khi vào cõi này là cũng đã có tội rồi. Giống như nhà Phật có câu “Ái bất nhiễm, bất sanh ta bà, niệm bất nhất, bất sanh tịnh độ” nghĩa là ta bị ái nhiễm thì ta mới sanh ra cõi này, mà sự tiêm nhiễm là một sự không trong sạch và điều này là có lỗi với linh hồn của chính chúng ta, nên mới cần phải gột rữa , Nhưng ta thấy trong điển tích Phật Giáo vẫn còn có một cách nữa. Đó là tổ Huệ Khả là tổ sư thiền tông đời thứ 2 bên Trung Quốc, khi sư gặp một người cư sĩ trạc 40 tuổi, chẳng nói tên họ, đến đảnh lễ Sư thưa rằng:

-Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình, xin thầy từ bi vì đệ tử sám tội.

Sư bảo:

-Đem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối. Ông cư sĩ đứng sững giây lâu thưa:

-Đệ tử tìm tội không thể được.

–Nay đệ tử mới biết tánh tội không ở trong, ngoài, chặng giữa; như tội, tâm cũng vậy, thật Phật Pháp không hai.

Bây giờ chúng ta cùng qua câu chuyện thứ 2, khi tổ Huệ Khả tới cầu pháp với tổ Đạt Ma là tổ sư thiền tông đời thứ nhất bên Trung Quốc. ta thấy cũng có một cuộc đối thoại tương tự :

Huệ Khả lại nói: “Tâm đệ tử bất an, xin thầy an tâm cho.”

Tổ Đạt Ma bảo: “Đưa tâm của ngươi đây, ta sẽ an tâm cho.”

Một lúc lâu sau, Huệ Khả mới đáp: “Đệ tử tìm tâm không thấy.”

Tổ Đạt Ma nói: “Ta an tâm cho ngươi rồi đó.”

Từ đó ta thấy cái tâm này là ám chỉ cái phần vọng tâm mà vọng tâm được hình thành bởi 2 loại tham ái là sự mê chấp và sự si ái. Mê có nghĩa là mê mờ là không sáng suốt là quá hấp tấp nên đã không nhận ra được cái hư vọng của những cảm nhận của những hình bóng được cất chứa trong vọng tâm từ đó mà sinh ra chấp trước rồi theo đó mà bị nó xui khiến phát ra những việc làm những hành động trên thân khẩu ý của mình cứ như vậy mà khiến cho tâm trí của ta cứ sao động, lo lắng rồi bất an. Giống như khi bạn nghĩ mình rất tài giỏi, rất ngon lành sự mê chấp vào cái bản ngã của bạn rất là lớn, bất chợt bị ai đó khinh thường trước mặt bạn thì ngay lập tức bạn có thể thượng cẳng chân hạ cẳng tay với người đó, nghĩa là bạn đã bị cái mê chấp này nó xuôi khiến. Còn 2 chữ si ái có nghĩa là do sự ngu si là không tĩnh táo không thấy rõ ràng cứ thấy những gì mới lạ là thích mà không đủ sự tĩnh táo để nhận ra được rằng nó chỉ là những hình dung, những cảm thọ hiện lên một cách chớp nhoán do tâm phân biệt của ta tạo ra mà thôi từ đó mà cứ gìn giữ, chấp trì rồi khiến cho tâm trí của mình trở nên nặng nề, u ám và trì trệ. Mà những cảm nhận, những bóng dáng, những hình dung thì nó không có cứng chắc không thể va chạm hoặc đâm chọt khiến ta đau đớn được, vậy thì cảm giác sao động, bất an và nặng nề, u ám này là do đâu, đó chính là do sự mê chấp, sự bám chặt, sự chấp trì mà ra. Giống như bàn tay khi nắm chặt lại dù không có vật sắc nhọn gì trong lòng bàn tay nhưng khi bám càng chặt nắm càng lâu thì nó càng mỏi mệt. Cũng giống vậy tuy những cảm nhận, những bóng dáng, những hình dung cất chứa trong vọng tâm này, nó không có sắc nhọn hay cứng chắc gì thì làm sao nó có thể khiến ta sao động và nặng nề được, từ đó ta thấy sự sao động và sự nặng nề là do sự mê chấp, sự bám víu của ta quá chặt vào những cảm nhận, những bóng dáng, những hình dung mà tạo ra một lối mòn rất sâu rất dầy trong tâm thức của ta.Mà sự mê chấp, sự bám víu sự nắm giữ này là do đâu chính là do mắt xích Mê Chấp và Si Ái. Do Mê chấp vào những cảm nhận những bóng dáng hư vọng cất chứa trong vọng tâm mà nó cứ thúc đẩy ta hành động, hết khởi lên ý niệm này tới ý niệm khác khiến cho tâm trí ta sao động, bất an. còn Si Ái là căn nguyên dẫn tới mắt xích thủ, thủ là sự bám víu sự nắm giữ một khi càng chấp chặt một hình dung, một cảm thọ nào đó sẽ khiến cho tâm trí của ta càng trở nên nặng nề, u ám và trì trệ. Cả 2 trạng thái này đều không tốt đều khiến cho tâm trí ta không thể có được sự an lạc và yên vui. Đây là 2 trạng thái mà nhà Phật hay nói là trạo cử và hôn trầm rất có hại cho sự an định của tâm thức.

Một khi sức định mà càng kém thì đầu óc người này càng không có sự sáng suốt và tỉnh táo từ đó mà có những lựa chọn, những quyết định và những hành động sai lầm. Điều này là mấu chốt cho sự thành công hay thất bại của một đời ngày, vì vậy mà mọi tôn giáo mọi nền giáo dục đều chú ý tới sự trong sáng của linh hồn. Nên mới có phương pháp gột rữa linh hồn, rồi phải cố gắng sống theo những điều răn để bảo hộ cho linh hồn không còn bị tiêm nhiễm nữa, cao hơn nữa là tu tập thiền định để kiềm hãm một cách triệt để hơn. Trong các điển tích của nhà Phật ta còn thấy có một phương pháp nữa đó là làm sao giúp ta nhìn ra được bản chất của linh hồn, của những cảm giác tội lỗi, bất an là do đâu.Trước tiên phải thấy được rằng linh hồn cũng chỉ là một thứ vọng tâm hoàn toàn hư vọng tuy là vọng nhưng không phải là không có gì. Mọi thứ ta làm mọi thứ ta nghĩ đều để lại một dấu vết trong tâm thức của mình. Những dấu vết những vết mòn này là cái tạo nên cái vọng tâm của ta. Mà những dấu vết những vết mòn thì không thể là ta được, nghĩa là dù những vết mòn này có sâu dày tới đâu, linh hồn ta có ô nhiễm cỡ nào thì ta vẫn là trong sạch vẫn bình đẳng như bất kỳ ai, như trong kinh Hoa Nghiêm Phật có nói rằng “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng Như Lai, nhưng vì vọng tưởng, chấp trước mà không thể chứng đắc”, cái bản thể, tự tánh, chân tâm mới chân thật là ta còn linh hồn cũng chỉ là những vết mòn trong tâm ta mà thôi. Khi thấy được điều này thì một vết mòn mới tạo nên trong tâm thức của ta không những nó có thể từ từ thây thế những vết mòn cũ mà còn giúp ta không tạo thêm nghiệp mới, tại sao ý niệm này sẽ giúp ta tránh tạo thêm ác nghiệp chúng tôi sẽ nói kỹ hơn về phần sau. Và những vết mòn này sẽ kích hoạt các tế bào thần kinh neuron, tùy vết mòn đó như thế nào thì nó sẽ nãy nở trong não bộ của chúng ta theo chiều hướng đó. Nhờ các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến như hiện nay họ đã thấy được mạng lưới các tế bào thần kinh neuron trong não bộ của chúng ta ngày ngày có những nhánh mới nảy sinh nhưng cũng có nhiều nhánh cũ bị tiêu hủy, có nhiều tế bào mới nảy sinh nhưng cũng có nhiều tế bào củ bị tiêu hủy, những sự nảy sinh và tiêu hủy này là do ngày ngày có những ý niệm những hình dung được tạo ra, và đồng thời có những hình dung, những ý niệm củ bị thây thế. Giống như những rãnh nước mới mà ta tạo ra thì trong tâm thức ta đó là những loại nhận thức mới, ý niệm mới, hình dung mới và nếu ta thường hay khởi lên những ý niệm này thì giống như một dòng nước nếu nó hay chảy ở rãnh nước nào thì rãnh nước đó sẽ sâu và dày hơn những rãnh nước khác, những vết mòn trong tâm thức của ta hoạt động cũng giống như vậy vết mòn nào càng sâu thì các dây thần kinh neuron bao bọc cái vết mòn đó cũng phát triển theo. Nhưng dù các thiết bị kỹ thuật có tiến bộ cở nào thì hiện nay cũng chỉ có vài nhà khoa học mới bắt đầu tìm hiểu sâu hơn vào thế giới lượng tử mới thấy được những thông tin lưu trên các dây thần kinh neuron vật chất cũng chỉ là cái vỏ bọc ở mức thô mà thôi. Khi cái võ bọc này bị mất đi, thì những thông tin được cất chứa trong các vi ống lượng tử vẫn không hề bị phá hủy, khi phần thể xác bị phân hủy, cái lực sống không còn tứ đại ở phía dưới  là đất nước gió lữa bị phân ly, nhưng mạng lưới thông tin nằm trong các vi ống lượng tử được bao bọc bởi các dây neuron thần kinh được liên kết bởi một thứ lực còn vi tế hơn cả trường sinh lực còn gọi là lực hấp dẫn lượng tử, nên khi lực sống không còn thì cái mạng lưới thông tin này vẫn còn, lực hấp dẫn lượng tử tuân theo những nguyên lý của cơ học lượng tử, và cái hệ thống mạng lưới thông tin này nhà Phật gọi nó là kiến đại và thức đại nó còn vi tế và linh động hơn cả ánh sáng hơn cả những lực cơ bản trong tự nhiên, nếu nó không còn mắt kẹt trong thân thể nữa thì nó sẽ lưu chuyển theo nghiệp lực mà nó dẫn dắt với tốc độ cực nhanh, đây là một trong những hiện tượng vô cùng khó hiểu của thế giới lượng tử mà các nhà khoa học đã phát hiện ra nhưng họ vẫn chưa giải thích được, tuy nhiên các nhà khoa học đã tạo ra được một vài ứng dụng từ hiện tượng này, các nhà khoa học gọi hiện tượng này là rối lượng tử hay là vướng víu lượng tử qúy vị có thể xem lại tập một để thấy được ứng dụng này của các nhà khoa học. Và nghiệp lực chi phối cái linh hồn lúc này chính là những vết mòn trong tâm thức mà ta tạo ra khi còn sống. Chính những lối mòn này sẽ dẫn nó tới những cảnh giới tương ứng. Nếu nó quá nặng nề, u ám và trì trệ thì nó sẽ tự động chìm xuống những cảnh giới như địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh, nếu nó quá sao động, lo lắng và bất an thì rất dễ sinh vào cõi a tu la và tùy vào sự nặng nề và u ám mà nó lại sinh vào những cảnh giới tương ứng nhưng cao nhất cũng chỉ ở cõi trời dục giới, thấp nhất là ở súc sanh, ngạ quỷ nhưng trong địa ngục thì không có Atula, ở trời dục giới và người 2 loại trạng thái này đều nhẹ, nhưng trời thì nhẹ hơn. Mà 2 trạng thái tâm thức này là do 2 loại tham ái là mê chấp và si ái tạo ra. Nên ta cần nhìn kỹ 2 loại tham ái này hơn nữa. Khi đó ta thấy dường như có một dạng năng lượng tâm thức tích tụ ở sự Mê Chấp là căn nguyên thúc đẩy ta hành động khiến ta cứ khởi lên hết ý niệm này tới ý niệm khác làm cho tâm trí ta trở nên sao động bất an. Còn có một dạng năng lượng khác với dạng năng lượng trên nó không phát ra hành động mà lại tồn tại ở dạng nắm giữ và chấp chặt mà sự kết chặt càng cao thì tâm trí ta càng có cảm giác nặng nề và u ám khiến cho mình có một cảm giác tội lỗi gì đó. Điều này khiến cho ta liên tưởng tới năng lượng ở trên mặt trời với một nhiệt độ rất lớn khiến cho các hạt điện tử chuyển động dữ dội, ánh sáng phát ra liên tục không ngừng. Còn ở dưới địa cầu năng lượng lại tồn tại dưới dạng khác chủ yếu là trong các dạng vật chất. vật chất nào mà có khối lượng càng lớn nghĩa là lực liên kết càng chặt thì năng lượng tích trữ trong đó càng lớn đúng như công thức của nhà khoa học Einstain Năng lượng tích trữ trong một vật bằng khối lượng của vật đó nhân cho tốc độ của ánh sáng bình phương. E=m.c^2

Nhờ kiến thức khoa học ngày nay đã giúp chúng ta có sự hình dung rõ ràng hơn. Còn hồi xưa sự gặp nhau giữa thầy và trò rất ngắn ngủi các vị Tổ chỉ có thể khai thị rất ngắn gọn làm sao giải quyết được tức thời những nỗi bất an, nỗi đau khổ ngay lúc đó như một biện pháp chữa cháy tức thời. Như vậy trong cuộc đối thoại này các vị tổ sư có làm phép rữa tội gì cho đệ tử của mình không ? vậy thì làm sao có thể giúp cho các vị đệ tử thoát ra được nỗi bất an lo sợ về những tội lỗi của mình. Rõ ràng là các vị tổ sư không có làm gì cả chỉ trao cho họ một thanh gươm trí tuệ giúp họ tự cắt đứt được nỗi bất an của mình.

Thanh gươm trí tuệ này là gì đó chính là sự nhận thức sự nhìn ra được bản chất của nỗi bất an này là do đâu, đó là do họ đang bám chặt vào một ý niệm một hình bóng hư vọng nào đó, đây là nguyên nhân chính gây ra cái khổ hiện tại này, nên khi họ vừa buông ra ngay lúc đó nó đã tạo ra một hướng đi mới, một ngõ rẽ mới nếu cứ tiếp tục như vậy thì những lối mòn cũ dù sâu dày tới mấy cũng dần dần được thây bởi những lối mòn mới này, tuy mới chỉ mở ra lối đi mới nhưng cũng giúp họ có được một cảm giác bình an tuy ngắn ngủi nhưng cũng giúp họ có được niềm tin với mình, khi họ có niềm tin thì họ mới theo mình học hỏi rồi lúc đó mới từ từ giảng giải giúp họ truy lần ra được tới gốc rễ cuối cùng khi đó mới có thể giúp họ biết cách chuyển hóa nội tâm của mình một cách triệt để.

Phương pháp này cũng giống như cách mà ta giúp đỡ cho một người nghèo vậy thây vì cho họ tiền để họ giàu lên thì mình lại chỉ dạy họ một cái nghề để họ tự làm giàu lên. Phải tự bản thân họ biết cách nhận ra được sự mê lầm của mình mới có thể giúp họ sữa đổi một cách triệt để nhất. Nếu bạn không nhận ra được những căn nguyên của sự mê lầm thì bạn rất dễ tiếp tục phạm sai lầm. Nên phép rữa tội hay phép cứu rỗi của những tôn giáo tín ngưỡng cũng chỉ là biện pháp giúp bạn giảm bớt nỗi khổ do mặc cảm tội lỗi gây ra một cách nhất thời mà thôi không phải là pháp cứu cánh viên mãn.

Những cái khổ do mặt cảm tội lỗi, nặng nề, u ám hoặc những cảm giác sao động, lo lắng, bất an đều gọi là khổ tâm, khi giảm nhẹ được 2 loại khổ tâm này họ có thể sanh lên cõi trời dục giới, nhưng 4 cái khổ về thân là sanh lão bệnh tử vẫn không thể thoát khỏi, vì họ còn ăn uống còn cảm thọ về sắc chất nên thân họ không thể tránh khỏi 3 cái khổ đó là sanh, lão và bệnh. Muốn thoát ra khỏi 3 cái khổ này chỉ có một cách là không cần ăn uống nữa. Trong thiền định rất sâu, họ có thể hấp thụ năng lượng trực tiếp từ vũ trụ vì vậy mà họ không cần ăn, đây gọi là thiền duyệt vi thực. Khi họ mất đi, thần thức của họ có thể lên được cõi trời sắc giới, họ chỉ có hóa sanh nên không có cái khổ về sanh, họ không có ăn uống nên không có cái khổ về lão, bệnh, nhưng họ vẫn không thoát khỏi cái khổ về chết, cái khổ này nhà Phật gọi là hoại khổ, còn những chúng sanh ở cõi dục phải chịu ít nhất 4 cái khổ trở lên nhà Phật gọi những thứ khổ này là khổ khổ. Người sức định càng sâu, họ biết được thân thể này vẫn là một việc phiền phức. Người Trời Sắc Giới vẫn có thân thể, tuy là không có khổ khổ, nhưng họ có hoại khổ, thân hình sẽ có một ngày hoại đi, hoàn cảnh lầu các cung điện nơi ở cũng sẽ có một ngày bị hủy diệt, cho nên họ có hoại khổ. Thế là một số người thông minh, biết được hoại khổ từ do đâu mà có. Bởi vì có thân, bởi vì có sắc tướng nên mới có hoại khổ, vì vậy họ còn tiến thêm một bước nữa là không cần đến cái “thân”, sắc tướng cũng xả bỏ luôn, tiến vào Vô Sắc Giới. đây là tầng cao nhất trong lục đạo. Vô Sắc Giới thì ngay cả nhục thân cũng chẳng có, chữ Sắc chỉ thân thể vật chất và hiện tượng vật chất. Do vậy có thể biết, trong bốn tầng trời của Vô Sắc Giới, chỉ có hiện tượng tinh thần tồn tại, chẳng có vật chất, chẳng có nhục thân vật chất, mà cũng chẳng có những kiến trúc vật chất, quý vị đều chẳng nhìn thấy. Chúng ta thường gọi những cõi trời ấy là “linh giới”, linh hồn của họ tồn tại. Đó là phàm phu cao cấp. Mà họ không nhận ra rằng linh hồn cũng là một dạng tồn tại do nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi ra biến hóa nên nó cũng vô thường biến đổi như cái thể xác mà thôi, loại khổ này nhà Phật gọi là hành khổ. Như vậy linh hồn và thể xác nó có cùng một tính chất là vô thường và biến đổi. Linh hồn và thể xác tuy hai mà một tuy linh hồn có thể linh động và vi tế hơn thể xác nhưng về bản chất thì cũng giống nhau đều là do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra. Chẳng qua sự thây đổi và biến hóa của thể xác rõ ràng hơn sự thây đổi và biến hóa của linh hồn mà thôi. Nên việc bạn giữ lại linh hồn thì cũng chẳng khác gì việc giữ lại thể xác, nên vấn đề đi kiếm một thể xác mới chỉ là việc sớm hay muộn mà thôi. Nếu muốn không kiếm một cái thể xác mới thì chỉ có một cách duy nhất là phải loại bỏ linh hồn. một khi linh hồn không còn thì thể xác cũng sẽ không còn, cái này không thì cái kia không cái này có thì cái kia có. Đây là một chân lý tuyệt đối bất di bất dịch mà Đức Phật đã khám phá ra và đây là câu nói ngắn gọn nhất để mô tả pháp thập nhị nhân duyên. Rõ ràng  ta thấy có sinh là do có hữu, một khi hữu không có thì sinh cũng không.  Hữu chính là phần linh hồn, một khi có linh hồn thì sự sinh ra chính là sự tái sanh sự đầu thai sớm muộn gì cũng phải xảy ra. Nên việc hành trì giới luật hay việc tuân theo các điều răn dạy của các tôn giáo tín ngưỡng chỉ làm cho cái hệ thống tinh vi này hoạt động ở mức độ nhẹ nhàng hơn, ít khổ đâu hơn mà thôi. Còn việc tu tập thiền định cũng chỉ là sự đình chỉ, sự kiềm hãm nhất thời mà thôi. Nên HT Tịnh Không có nói rằng nếu chúng ta chỉ biết trì giới và chỉ biết tu tập thiền định mà không biết cách khai mở trí tuệ thì việc trì giới hay việc tu tập thiền định đó chỉ là phước báu hữu lậu, chỉ là sự kìm hãm cái hệ thống tinh vi đó một cách nhất thời mà thôi không thể khiến cho nó ngưng hoạt động được.

Tuy việc trì giới tu thiền chưa có thể giúp ta bước qua cánh cửa giải thoát, nhưng nó là những bước đệm để ta bước dần tới cánh cửa đó. Giới ở đây có nghĩa là giới hạn là ranh giới, trì giới ở đây nghĩa là bắt ta phải kiểm soát được các hành động trên thân khẩu ý của mình trong một khuôn khổ nhất định, trong một phạm vi giới hạn nào đó. Nên việc trì giới là tác động vào mắt xích hành trong 12 mắt xích của thập nhị nhân duyên. khi một mắt xích được kìm hãm thì nó sẽ kìm hãm cả cái hệ thống này lại, khi cái hệ thống này hoạt động chậm lại thì cũng có nghĩa là tâm thái của ta sẽ an ổn hơn, khi tâm thái ta bình an hơn sẽ giúp ta tu tập thiền định tốt hơn.

Còn việc thiền định chủ yếu là tác động vào mắt xích Lục Nhập, chuyên chú vào một đề mục nào đó chẳng hạn, hoặc việc bế quan, nhập thất mục đích chủ yếu cũng là tác động vào mắt xích lục nhập, căn bản việc này là hạn chế lại cái duyên bên ngoài, công phu này có tính chất gắt gao hơn là việc trì giới, nên mới có thuật ngữ định cộng giới là vậy. Nhưng nếu việc thiền định được dẫn dắt bởi những nhận thức chưa đạt tới cái chân lý tuyệt đối thì việc thiền định đó cũng chỉ là sự kìm hãm sự đình chỉ nhất thời mà thôi không thể giúp cho cái hệ thống tinh vi này vĩnh viễn ngưng hoạt động được.

Như việc tu tập thiền định với mục đích làm sao kiểm soát được linh hồn không để cho nó tái sanh là không phù hợp với cái chân lý Thập Nhị Nhân Duyên mà Đức Phật đã giác tri. Nên việc thiền định của họ không thể giúp họ đạt được mục tiêu đó.

Nên việc thiền định bên Phật Giáo là phải khai mở được trí tuệ phải nhận ra được cái chân lý tuyệt đối, thấy được cái bản chất cái căn bản của mọi sự vật hiện tượng thì mới có thể giúp ta giải quyết được vấn đề. gần đây có một vị giáo sư nổi tiếng đã có nhiều ý tưởng điên rồ về việc xem xét lại những nền tảng cơ sở cho những lý thuyết khoa học, tìm lại cái bản chất căn bản của mọi sự vật hiện tượng và điều này lại rất phù hợp với những gì chúng tôi đã trình bày về pháp thập nhị nhân duyên này. Đó là  David John Chalmers là một triết gia Australia chuyên gia về lĩnh vực triết học tinh thần và triết học ngôn ngữ. Ông là Giáo sư triết học và Giám đốc Trung tâm nhận thức ở Đại học Quốc gia Australia. Ông cũng là giáo sư thỉnh giảng triết học ở Đại học New York, ông nói rằng: tôi là một người theo chủ nghĩa duy vật và tôi rất muốn có một lý thuyết thật sự khoa học về nhận thức mà có thể hoạt động được và trong một thời gian dài tôi cảm thấy  vô vọng trong việc tìm kiếm một lý thuyết về nhận thức dựa trên các hiện tượng vật lý mà có thể hoạt động được. Nhưng cuối cùng tôi có thể kết luận rằng lý thuyết như vậy là không thể vì lý do mang tính hệ  thống, đó là một câu chuyện dài.

Nhận thức cũng là cái làm cho cuộc sống đáng sống. Nếu chúng ta không có nhận thức, mọi thứ trong cuộc sông trở nên vô nghĩa và vô giá trị Nhưng đồng thời, chính nhận thức là hiện tượng bí ẩn nhất trong vũ trụ Tại sao chúng ta có nhận thức? Tại sao chúng ta có những bộ phim trong đầu? Tại chúng ta không đơn giản chỉ là những robot những thứ có thể xử lý tất cả những dữ kiện và đưa ra các phản ứng, mà không trải nghiệm bộ phim bên trong đó? Hiện nay, chưa có ai biết câu trả lời cho những câu hỏi trên. Tôi cho rằng để đưa nhận thức vào nghiên cứu, sẽ cần có nhiều ý tưởng cấp tiến mới.

Trên tất cả các nẻo đường trở lại với những chân lý, triết học và chắc chắn là xuyên suốt lịch sử của thần kinh học, sự nhận thức đã trở thành một bí ẩn, nó đã từ chối mọi nỗ lực làm sáng tỏ, và luôn nhận được nhiều sự tranh cãi nhất. Và thực ra đã có rất nhiều người nghĩ rằng chúng ta thậm chí không nên động tới đề tài này; chúng ta hãy để nó yên, nó không phải là thứ dành để tìm hiểu hay tháo gỡ.

Có người nói rằng nghiên cứu về nhận thức là bất khả thi. bởi vì, bản thân khoa học là sự khách quan. còn nhận thức, bản chất là sự chủ quan. Do đó không bao giờ có một môn khoa học của nhận thức. Quan điểm đó thống trị suốt thế kỷ 20 Các nhà tâm lý học nghiên cứu hành vi một cách khách quan, các nhà thần kinh học nghiên cứu não bộ cũng vậy. và không một ai nhắc gì tới nhận thức.

Thậm chí 30 năm trước, có rất ít nghiên cứu khoa học về nhận thức.

 

2:3103:14

CáBây giờ, khoảng 20 về năm trước, Mọi thứ bắt đầu thay đổi.Các nhà thần kinh học như Francis Crick và các nhà vật lý như Roger Penrose nói rằng bây giờ là thời điểm để cho khoa học tấn công vào nhận thức. Kể từ đó, đã có một sự bùng nổ thật sự, nở rộ các công trình khao học trong lĩnh vực này. Các công trình này thật tuyệt vời. thật sự rất tuyệt. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn những giới hạn cơ bản. Tâm điểm của khoa học về nhận thức trong những năm gần đây đó là tìm kiếm các mối tương quan, sự liên hệ giữa các vùng của bộ não và các trạng thái nhất định của nhận thức.  chúng ta đã thấy được nghiên cứu này của Nancy Kanwisher, chúng thật tuyệt vời cô ấy mời thuyết trình cách đây ít phút. Nhờ vậy, chúng ta có một hiểu biết tốt hơn, ví dụ, Những vùng của não bộ liên quan tới trải nghiệm ý thức về nhận ra các gương mặt hay cảm giác đau, hoặc cảm giác hạnh phúc. Nhưng đây mới chỉ là khoa học về các mối tương quan. Nó không phải là khoa học giải thích.Chúng ta biết rằng những vùng não bộ nào liên quan tới trải nghiệm nhận thức nào. Nhưng nó không giải quyết được bí ẩn thực sự ở cốt lõi của vấn đề. Tại sao tất cả các quá trình vật lý xảy ra trong não bộ lại đi kèm với nhận thức? Tại sao lại có bộ phim bên trong đó? Hiện nay, chúng ta thực sự không có manh mối nào.

Và các bạn có thể nói rằng, hãy cho các nhà thần kinh học thêm vài năm nữa.

Hiện nay, chúng ta có thể áp dụng sự hiểu biết về não người trong việc giải thích một số hành vi và chức năng của nó như là hiện tượng tự phát: Cách chúng ta đi lại, nói chuyện, cách chúng ta chơi cờ, và mọi câu hỏi khác về hành vi. các câu hỏi về hành vi  này cũng chỉ là một trong trong những vấn đề dễ dàng, nhưng Khi nói tới vấn đề khó, đó là câu hỏi tại sao mọi hành vi đó lại đi kèm với cảm giác chủ quan? Và ở đây, mô hình tiêu chuẩn của sự tự phát thậm chí các mô hình chuẩn trong thần kinh học cho đến nay, không có gì nhiều để nói.

Những ý tưởng cốt lõi chỉ là cái mà các bạn có được từ những giải thích giản lược dựa trên các cơ sở của vật lý và não bộ là câu chuyện về hoạt động của hệ thống, cấu tạo và động lực của nó, hành vi mà nó tạo ra, nhưng cũng chỉ giải quyết các vấn đề dễ dàng.  Nhưng khi nhắc tới những trải nghiệm chủ quan. Tại sao tất cả những thứ trên cảm giác như xuất phát từ bên trong? Đó là thứ gì đó mới mẻ, và sẽ còn đó những câu hỏi xa hơn. Tôi nghĩ chúng ta đang bế tắc tại điểm này.

Chúng ta đã có một loạt các giải thích tuyệt vời,như Vật lý giải thích Hóa học hóa học giải thích sinh học sinh học giải thích những khía cạnh của tâm lý. Nhưng nhận thức có vẻ như không phù hợp trong bức tranh này. Một mặt, nó là một dữ kiện mà chúng ta nhận thức được. Mặt khác, chúng ta không biết cách để đưa nó vào trong quan điểm khoa học về thế giới của chúng ta. Do đó, tôi nghĩ rằng nhận thức là thứ gì đó dị thường chúng ta rất muốn lồng ghép nó vào trong thế giới quan của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn không biết cách. Đối mặt với một thứ dị thường như thế này, sẽ cần những ý tường cấp tiến và tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ cần một hoặc hai ý tưởng ban đầu , nghe có vẻ điên khùng trước khi chúng ta hiểu biết một cách khoa học.

Và cuối cùng ông kết luận chúng ta cần phải tạo ra một học thuyết mới về ý thức nếu không chúng ta sẽ gặp rắc rối lớn trong khoa học và tâm lý học, hiểu được ý thức là một chìa khóa thực sự để giúp chúng ta không những hiểu được cả vũ trụ này mà còn về bản thân chúng ta nữa. Và ông đưa ra 2 điểm chính mà ý thức cần phải được xem xét lại.

Thứ Nhất:  sự nhận thức là một điều rất cơ bản.  Các nhà vật lý học thường lấy những khía cạnh của vật lý để xây dựng nền tảng cho: không gian, thời gian và khối lượng. Họ đặt ra những luật cơ bản để thực hiện chúng như trọng lực hay cơ học lượng tử. những đặc tính và quy luật này cũng chưa được giải thích bằng những khái niệm cơ bản hơn. Thay vào đó, họ xem đó là những thứ căn bản nhất và định nghĩa mọi thứ từ chúng. Đôi khi, những khái niệm cơ bản được phát triển thêm Trong thế kỉ 19, Maxwell đã cho rằng bạn không thể giải thích hiện tượng điện từ bằng những khái niệm cơ bản như không gian, thời gian, khối lượng, đinh luật Newton vì thế ông ấy đã đặt ra định luật cơ bản về điện từ và đặt ra sự tích điện như là một nguyên tố cơ bản theo những quy luật đã có này. Tôi nghĩ rằng điều chúng ta đang đề cập chính là nhận thức. Nếu bạn không giải thích được sự nhận thức theo những thuật ngữ cơ bản nhất như không gian, thời gian, khối lượng, sự tích điện thì theo logic mà nói, chúng ta cần mở rộng danh sách đó. Và điều tự nhiên nhất cần làm là xem nhận thức như một thứ rất căn bản, như 1 phần căn bản của tự nhiên. Điều này không có nghĩa là bạn không thể nghiên cứu nó.

Thứ Hai : sự nhận thức là mang tính phổ biến.  Mọi thực thể đều là ý thức, không chỉ con người con chó, con chuột, con ruồi thậm chí những con vi khuẩn của Rob knight hay những hạt cơ bản, thậm chí một hạt photon cũng có mức độ nhận thức riêng. ý tôi không phải là những hạt photon này thông minh hay nó biết suy nghĩ Nhưng những hạt photon có thể có một số yếu tố về cảm giác chủ quan, một số tiền đề nguyên thủy đối với ý thức.

Một sự thúc đẩy sâu xa hơn đến từ ý tưởng này là tìm ra những quy luật cơ bản liên quan đến ý thức bằng xử lý vật lý là sự kết nối ý thức với thông tin. Bất cứ nơi nào có sự hiện diện của xử lý thông tin, nơi đó sẽ có ý thức. Trong 1 người,việc tiếp nhận những thông tin phức tạp, thì đòi hỏi ý thức phức tạp. Sự tiếp nhận những thông tin đơn giản, cần ý thức đơn giản.

Một điều thú vị là trong những năm gần đây một nhà thần kinh học, Giulio Tononi đã dựa trên lý thuyết này và phát triển nó một cách chặt chẽ với lý thuyết toán học. Ông ấy có 1 phép đo lường toán học cho việc kết nối thông tin. ông ấy gọi là phi, thứ giúp đo lường lượng thông tin được tích hợp trong hệ thống. Và ông ta cho rằng phi gắn liền với ý thức. Vì thế trong não con người, có một số lượng lớn sự tích hợp thông tin, ở mức độ cao của phi, và của ý thức. Trong một con chuột, ở mức nhập thông tin trung bình vẫn khá quan trọng, và cũng liên quan đến sự ý thức. Nhưng khi bạn hạ xuống những thứ như sâu bọ vi khuẩn, hạt vật chất, số lượng phi giảm mạnh. Số lượng thông tin nhập vào cũng giảm, nhưng không phải là về con số 0 Theo định lý của Tononi, vẫn có thể về không độ của ý thức. Trong sự ảnh hưởng này, ông ấy nêu ra quy luật cốt lõi của ý thức: phi cao, ý thức cao. Bây giờ, tôi vẫn chưa khẳng định rằng nếu học thuyết này là đúng, thì nó sẽ có thể dẫn đến một học thuyết trong khoa học về nhận thức, và nó được dùng để nhập những nhánh thông tin của dữ liệu khoa học, và nó có một đặc tính tốt thứ mà trên thực tế đủ đơn giản để bạn có thể viết chúng lên mặt trước của áo

2 Điều này sẽ mở ra hướng đi để bạn có thể nghiên cứu, cái chúng ta cần làm đó là học những quy luật cốt lõi về điều chỉnh sự nhận thức và những quy luật kết nối sự nhận thức với những thứ khác như không gian, thời gian, khối lượng, những định luật vật lý. Các nhà vật lý thường cho rằng họ muốn những quy luật cốt yếu thật sự đơn giản để họ có thể viết trên mặt trước của một cái áo.Tất nhiên tôi cho rằng tình huống như thế cũng có thể làm được liên quan đến ý thức. Chúng ta muốn tìm ra quy luật cốt lõi thật đơn giản để chúng ta viết chúng lên áo. Chúng ta không biết định luật này có tồn tại hay chưa nhưng đó là điều chúng ta cần làm.

Ở 2 bài trước chúng tôi đã mô tả rất kỹ Thập Nhị Nhân Duyên của Đức Phật đã cho ta thấy rằng pháp duyên khởi này đã đáp ứng được 2 điều này. Ở bài thứ hai, mô tả về quy luật chuyển hóa của vật chất, chúng tôi đã đề cập đến 2 khái niệm mê chấp đạo lý và si ái là những khái niệm cơ bản tương tự như những khái niệm cơ bản khác như là không gian, thời gian, vị trí và vận tốc, cái động và cái hữu hình đây đều là những khái niệm cơ bản và nó đã giải thích được hiện tượng lưỡng tính sóng hạt của vật chất cũng như các hiện tượng tiến hóa trong tự nhiên và 2 khái niệm mê chấp đạo lý và si ái không chỉ mô tả được các quy luật hoạt động của chúng sanh vô tình mà còn miêu tả được quy trình hoạt động của cả chúng sanh hữu tình đã được chúng tôi trình bày ở bài thứ nhất dựa trên nguyên tắc xử lý thông tin của một chiếc máy tính. Điều này lại trùng hợp với đặc tính thứ hai. Pháp duyên khởi này đúng là một quy luật cốt lõi thật đơn giản mà chúng ta có thể viết chúng lên áo. Từ đây ta càng tin tưởng hơn về 2 loại tham ái là sự mê chấp và sự si ái là căn nguyên căn bản tạo dựng nên vũ trụ tạo dựng nên thế giới nội tâm của mỗi chúng ta.

Bây giờ chúng ta cùng phân tích loại tham ái thứ nhất là sự mê chấp, dạng mê chấp này còn gọi là chi mạt vô minh hay là cành ngọn vô minh. Mê có nghĩa là mê mờ nên dẫn đến chấp trước những thứ hư vọng không có thật, còn vô minh nghĩa là không sáng suốt, 2 chữ này ý nghĩa cũng khá gần nhau

Quan sát loài người ta thấy loài người hơn loài vật ở chổ khả năng biết tư duy, suy nghĩ nhờ khả năng này mà loài người biết tìm tòi học hỏi nâng cao kiến thức, còn loài vật nó không có khả năng nâng cao kiến thức như con người nhưng nó vẫn có hành động và một khi có hành động thì mắt xích tiếp theo mà nó duyên tới là mắt xích thức. Như ta biết con người gồm có 2 phần một là phần con và hai là phần người. Như những hành động nào xuất phát từ phần người thì  ý thức của loài người sẽ được tải lên não bộ, còn những hành động nào xuất phát từ phần con thì dạng thức nào sẽ được tải lên. Cái dạng nhận thức thuộc về phần con nhà phật đặt nó cái tên là mạt na thức hay còn gọi là tình thức. Tình thức là mức nhận thức rất đơn giản và thô sơ nó chưa đủ khả năng để nhận biết được về các đạo lý, các chân lý, các quy trình hoạt động phức tạp của thiên nhiên của xã hội. Còn dạng nhận thức nào thuộc về phần người tức là khả năng tư duy khả năng phát triển từ những nhận thức thô sơ, đơn giản dần dần tiến lên thành các nhận thức phức tạp và nhà Phật gọi nó là ý thức,  ý thức có khả năng tổ hợp, lựa chọn và sắp xếp các dạng nhận thức đơn giản để trở thành các dạng nhận thức phức tạp hơn nhờ vậy mà ý thức có khả năng phân tích khả năng nhận biết được mọi vấn đề mọi hiện tượng đang diễn ra trên cái thế giới này. Giống như mạch tích hợp trong các bộ vi xử lý của máy tính nó cũng được cấu tạo từ sự tích hợp các cổng lô gic đơn giản, các cổng logic này còn đơn giản hơn toán lớp 1, nhưng một khi biết cách lựa chọn, tổ hợp và sắp xếp nó có thể thực hiện được phép cộng, cộng được rồi ắt sẽ có nhân và một khi có cộng và nhân thì mọi thứ khác đều trở nên dễ dàng, chúng có thể tính toán được bất cứ thừ gì từ vật lý thiên văn đến các trò chơi điện tử phức tạp như ngày nay.

Tại sao mạt na thức còn gọi là tình thức, tình ở đây có nghĩa là tình cảm nghĩa là sự nhận thức mang tính chất cảm nhận một cách chủ quan không có một cơ sở đúng đắn. Giống như khi ta ngủ mơ phần ý thức không hoạt động chỉ có cái tình thức này hoạt động nên khi bất kỳ sự việc, hiện  tượng gì diễn ra trong giấc mơ dù bất hợp lý tới đâu ta cũng chấp nhận như thật không hề thấy sự vô lý của nó nên cứ bị nó dẫn đi mãi trong cái giấc mộng đó mà không hề ý thức được sự phi lý của nó. Cũng giống như vậy con người nào mà ý thức kém họ cứ hoạt động theo tình thức theo cảm tình thì họ dễ phạm nhiều sai lầm trong cuộc sống. Nên được làm thân người chúng ta phải cố gắng nâng cao ý thức nhận biết được đâu đúng đâu sai một cách rõ ràng, những nhận thức sai lầm đều là do chạy theo cảm tình thiếu lý trí mà ra. chữ tình ở đây mang tính chất tình cảm, tình ái là sự u mê sự mê đắm vào một cảm thọ hoặc vào một nhận thức sai lầm nào đó.

Như sự nhận thức về một cái bản ngã, cho rằng thân xác này là ta đây là một dạng cảm nhận sai lầm, nó thuộc dạng nhận thức thô sơ và đơn giản nhất nên nó thuộc về mạt na thức nghĩa là con vật cũng có cái dạng nhận thức này, từ nhận thức thô sơ này mà nó tin rằng thân thể này là ta từ đó ra sức bảo vệ, duy trì cái thân xác đây gọi là bản năng sinh tồn nếu loài người chạy theo cái nhận thức sai lầm này thì nó sẽ thúc đẩy con người tạo ra những hành động bất thiện như con người thường hay che dấu tội lỗi của mình và ham thích truy cầu danh vọng. Vì cái danh này mà họ dễ dàng nói  dối để người khác trọng vọng mình, tạo ra một cái danh hay tiếng tốt chính là làm cho cái bản ngã càng ngày càng lớn dần, sự mê chấp cho rằng cái thân này là ta thuộc về chi mạt vô minh hay còn gọi là cành ngọn vô minh. khi bản ngã lớn dần chính là sự mê chấp càng lớn giống như khi sạc pin vậy ta cấm vào nguồn điện càng lâu năng lượng tích tụ càng nhiều, loại năng lượng của sự mê chấp bản ngã là loại năng lượng tâm linh nó cũng tương tự với năng lượng của vật chất mà các nhà khoa học đã định nghĩa, cái năng lượng của vật chất thì tương đương với căn bản vô minh của đạo phật. Đó là lý do vì sao khi còn nhỏ chúng ta rất vô tư ai chửi mắng chê bài gì mình cũng dễ dàng bỏ qua vì năng lượng của sự mê chấp này còn rất thấp nên sự bùng phát rất yếu không đủ để phát ra bất cứ hành động nào, nhưng khi càng lớn dần thì càng dễ nổi nóng, bực tức mỗi khi ai đó xúc phạm, chê bai mình vì một khi năng lượng cho loại mê chấp này mà nhiều thì nó rất dễ phát nổ, rất dễ bùng cháy nên rất dễ thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Vì vậy làm người chúng ta phải ý thức được điều đó muốn bớt khổ đâu chúng ta phải tránh đi những hành vi đó làm sao hạ cái phần con này xuống càng thấp càng tốt. Nên đạo nho lấy chữ tín để phòng ngừa việc nói dối không khoa trương khoát lát bản thân là nhằm dẹp bớt cái bản ngã của mình xuống, việc xấu tốt gì cũng không nên dấu giếm. Sự mê chấp bản ngã không chỉ phát khởi hành vi nói dối che dấu những tội lỗi xấu xa của mình mà còn là động cơ thúc đẩy con người truy cầu danh vọng, chức tước, địa vị theo đuổi bằng cấp học vị. Học vị, chức tước, địa vị càng cao thì bản ngã càng lớn.  Bên đạo nho thì đưa sự giáo dục luân thường đạo lý ngay từ trong bào thai, người nhỏ thì phải nghe người lớn, vợ thì phải nghe chồng, tôi thì phải nghe vua như đạo nho có những câu nói là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” hay là câu nói “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” hoặc là câu “cá không ăn muối cá ươn, con cải cha mẹ trăm đường con hư” nên khi xã hội ngày nay phế bỏ sự giáo dục về luân thường đạo lý thì xã hội bắt đầu động loạn.

Bên các tôn giáo tin ngưỡng thì dựa vào niềm tin về một linh hồn bất tử về một vị thần sáng tạo, một đức chúa trời đầy lòng bao dung bát ái giúp con chiên dám xưng tội để điều phục cái bản ngã của mình. Tuy nó còn sự chấp trước vào bản ngã cho rằng linh hồn này mới thật sự là ta nhưng sự chấp trước này chỉ có loài người mới ý thức được, còn con vật nó không ý thức được về điều này, sự chấp trước được sản sinh từ ý thức thì nó không còn là mê nữa, còn những chấp trước phía trên phát sinh từ mạt na thức thuộc về phần con vật nên còn cái mê trong đó, nên mới gọi là mê chấp. Sự chấp trước này tuy chưa thật sự chính xác nhưng nhờ vào niềm tin đó mà giúp nó có những hành vi hướng thượng hơn và nhờ vào niềm tin về một vị thượng đế đầy lòng bao dung bát ai đã giúp nó có những hành vi cao thượng hơn như việc dám xưng tội, phơi bày tội lỗi để tiêu tán cái năng lượng tích tụ trong cái ngã chấp của mình. Nên ngày nay khi con người quá tin vào khoa học mà khoa học thì vẫn chưa chứng minh về khái niệm linh hồn, khiến nhiều người mất niềm tin vào linh hồn dẫn tới việc ăn chơi hưởng thụ trở thành một mục tiêu duy nhất cho cuộc đời này. Vì vậy mà đa số mọi người ngày nay đều muốn tích lũy của cải vật chất càng nhiều càng tốt mục đích cũng chỉ để thỏa mãn các thú ăn chơi, hưởng thụ của mình thế nào là sự ô nhiễm của linh hồn họ đều không biết nên tạo ra bao nhiêu ác nghiệp cho đến khi quả báo trổ ra thì đã muộn.

Bên đạo phật thì lấy giới không vọng ngữ để ngăn ngừa hành vi nói dối mà căn nguyên thúc đẩy hành vi này là do sự chấp trước kiên cố cho rằng cái thân này là ta hoặc cao hơn nữa thì cho rằng linh hồn này mới là ta cũng đều là những nhận thức sai lầm. Là phàm phu chúng ta khó mà cắt đứt được sự chấp trước kiên cố đó chỉ có cố gắng hạn chế những hành vi sai lầm giảm bớt những hành vi đó chính là tác động vào mắt xích hành, một khi mắt xích hành được giảm bớt thì toàn bộ hệ thống tạo nên tâm trí của ta cũng dần được chuyển biến, năng lượng không được tích tụ nữa thì nó sẽ từ từ bị tiêu tán. Năng lượng tích tụ càng lớn sẽ càng khiến cho thân tâm ta giao động, đứng ngồi không yên hoặc khiến ta nặng nề, u ám, nhưng khi năng lượng được giảm bớt nó sẽ giúp cho thân tâm ta được an ổn và sáng suốt hơn khi đó phải tiến thêm bước nữa là tu tập thiền định chỉ có trong định tâm trí mới trở nên sáng suốt mới thấy được bản chất của mọi sự vật hiện tượng, lúc đó mới thấy được sự vô ngã trong mọi sự vật hiện tượng, như gió thổi, mưa rơi, nước chảy, thác đổ đều là những hiện tượng tự nhiên không có một chủ tể nào đứng sau những hành động đó như việc thổi của gió, việc rơi của mưa, việc chảy của nước đều là do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra biến hóa căn nguyên là do cái căn bản vô minh mà ra chứ không có một cái ngã cái ta nào phát sanh ra sự vận hành đó. Như những hành động những việc làm sai trái mà ta đã phạm phải đều do sự mê chấp sai lầm mà ra, nếu biết sữa chữa những sự mê chấp sai lầm này thì tự nhiên những hành động sai lầm không thể xảy ra. Sự mê chấp sai lầm này là vô minh, khi vô minh diệt thì hành sẽ diệt. Đúng như câu nói  “cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không” câu nói này đúng là một mô tả ngắn gọn nhất của giáo pháp duyên khởi. Nên Đạo Phật lấy giới, định, tuệ làm đầu mục tiêu trước mắt là làm sao ngưng được cái hệ thống vi tế đang không ngừng vận hành là căn nguyên dẫn dắt chúng sanh chiềm đắm mãi trong bánh xe luân hồi sanh tử. Đạo thiên chúa thì lấy niềm tin vào chúa trời, thượng đế vào một linh hồn bất tử nhằm giúp con người hướng thượng vượt qua khỏi cái phần con và cái phần người để trở thành con của đức chúa trời, còn đạo nho thì lấy nếp sống gia giáo dựa trên luân thường đạo lý nhằm giảm cái phần con trong con người xuống tới mức thấp nhất phát huy cái phần người càng nhiều càng tốt nhằm tạo ra một cuộc sống an ổn, hạnh phúc, hài hòa cho nhân sinh.

Những hành vi sai lầm mà con người phạm phải thì vô lượng vô biên, nhà Phật quy nạp lại thành 5 giới căn bản cần phải tránh cho những ai muốn được thân người đó là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo và uống rượu. Tương đương với ngũ thường của đạo nho là Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

Chúng ta phạm phải hành vi nói dối thường hay che dấu những thói hư tật xấu của mình thường là do sự mê chấp vào bản ngả quá lớn, thích người khác trọng vọng không muốn ai xem thường nên không dám nói sự thật về những thói hư tật xấu của mình cho mọi người biết. Còn hành vi tà dâm được thúc đẩy là do loại mê chấp nào. Con người khát khao tình ái muốn quan hệ với người khác phái thì ta thấy con vật cũng có cái loại hành vi này, nên sự nhận thức về giới tính của mình cũng là một dạng nhận thức đơn giản và thô sơ nhất nên nó cũng thuộc về mạt na thức nghĩa là con vật cũng có dạng nhận thức này. Mà đã thuộc về nhận thức của con vật thì loài người cần phải kiềm chế tới mức tối đa. Để hạn chế điều này thời đại phong kiến trước kia thường không để cho con cái tự ý kết hôn với người mình thích mà tất cả đều do cha mẹ quyết định, hoặc như đạo hồi mỗi khi ra đường người nữ phải bịt kín từ đầu tới chân chỉ cho hở con mắt mà thôi. Để giảm bớt hành vi dâm dục đạo nho đề cao lễ tiết. Giữ phẩm cách trong sạch. Xem người lớn tuổi như cha mẹ mình, xem người nhỏ tuổi như con cháu mình.

Còn hành vi trộm cắp là do loại mê chấp nào. Ai mà không muốn sở hữu của cải vật chất  càng nhiều càng tốt, ai mà không muốn sở hữu nhà lầu, xe hơi, vợ đẹp, con khôn…những ham muốn này được thúc đẩy bởi sự mê chấp vào vật mà ta sở hữu, cứ nghĩ rằng ta phải sở hữu được nhiều hơn thì ta mới sung sướng, như vì muốn sở hữu một khu đất rộng nên đã có hành vi lấn sang nhà hàng xóm một ít, hoặc khi có ảo tưởng rằng ta phải cần cái vật đó mới được thì tự nhiên sẽ cảm thấy rất là bức rức khó chịu nếu không có được vật đó thậm chí sinh ra ăn chộm, ăn cấp. Sự mê chấp này khiến con người ta thường thổi phòng lên sự cần thiết của những đồ vật khiến ta phải sở hữu cho bằng được như ngày nay con người không ngừng truy cầu của cải vật chất, thậm chí có thể ăn trộm ăn cấp của người khác, nếu loại mê chấp này của bạn mà rất là nhẹ thì tự nhiên khi thấy người nào đó ăn trộm, ăn cắp đồ của bạn hoặc lấn đất nhà bạn thì bạn cảm thấy rất là lạ, và thường là bạn không nghi ngờ hoặc cho rằng họ lấn đất nhà mình mà thường là cho rằng chắc là có một lý do nào khác họ mới làm vậy, và ngược lại nếu bạn cho rằng họ lấn đất, họ tranh trấp với đất nhà mình thì có nghĩa là bạn đang có loại mê chấp này rất nặng. Đạo nho dùng nghĩa để ngăn chặn những hành vi bất nghĩa không đúng theo nghĩa lý.

Còn loại hành vi thứ tư là sát sanh thì được thúc đẩy bởi loại mê chấp nào. Con người ta sát sanh hại vật đều không ngoài ý muốn thỏa mãn khẩu vị của mình. Vì muốn đồ ngon của lạ nên không ngần ngại sát hại sanh vật, cho rằng vật là đồ dưỡng nhân chỉ là một câu nói ngụy biện cho lòng ham muốn hưởng thụ ngũ dục lục trần trên thế gian này mà thôi. Nên sự mê chấp này thuộc về sự mê chấp vào những hình dung từ các loại cảm thọ được lữu giữ trong tâm thức của ta. Đạo nho thì lấy chữ nhân là nhân từ để giúp con người giảm bớt hành vi này.

Cuối cùng là hành vi thứ 5 chính là uống rượu, uống rượu sẽ khiến con người ta mất lý trí, rượu khiến cho các dây thần kinh tại não bộ bị ức chế nó hoạt động một cách rối loại và thường là hoạt động theo bản năng nhiều hơn khiến cho con người hành động như là con vật thiếu ý thức và như vậy thì rất dễ phạm phải 4 hành vi  phía trên. Nên đạo nho lấy chữ trí để khuyên nhắc mọi người giữ được cái giới này.

Mỗi loại mê chấp đều dẫn tới sự si ái vào những đối tượng tương ứng. Như mê chấp bản ngã thì dẫn tới si ái một cái danh, một chức tước, địa vị, bằng cấp nào đó. Mê chấp về ngã tính thì dẫn tới si ái một đối tượng khác phái nào đó, chẳng hạn người nữ thường cho rằng mình yếu đuối nên phát sinh ra những đối tượng si ái trái ngược với đặc tính đó thường là thích người mạnh mẽ, cứng rắn, phong độ, cường tráng và ngược lại người nam thường cho rằng mình mạnh mẽ nên có xu hướng si ái những đối tượng có tính chất ngược lại như sự thùy mị, nết na, sắc sảo, mãnh mai, dịu dàng, tinh tế. Tương tự như vậy sự mê chấp vào vật mà mình sở hữu thường dẫn tới si ái tới một đối tượng nào đó như nhà cửa, xe cộ, quần áo v.v..3 loại mê chấp này được gọi chung là sự mê chấp vào sự cảm nhận. Nếu gặp được một đối tượng nào đó ở bên ngoài mà phù hợp với cái cảm nhận cái sở thích của mình, mà sự cảm nhận cái sở thích này được hình thành là do một nhận thức nào đó tạo ra. Đây là loại si ái được hình thành khi thấy được một đối tượng ở bên ngoài phù hợp với một cảm nhận nào đó ở trong tâm thức của ta.

Ngoài ra còn có một loại mê chấp nữa, đó là sự mê chấp vào các loại hình dung từ các loại cảm thọ tại các giác quan. Như sự hình dung về dáng người đẹp được lưu trong tâm ta là do mắt thích cảm thọ cái hình dáng đẹp, sự hình dung về một bài hát hay vì tai thích cảm thọ những âm thanh hay, tương tự vậy lưỡi thì thích vị ngon, mũi thì thích hương thơm, thân thì thích xúc chạm, ý thì thích đạo lý, lẽ phải. Sự si ái do sự cảm thọ mang lại chủ yếu là do sự chú tâm tại các giác quan bị kích thích. Sự khác biệt càng rõ ràng thì sự kích thích càng mạnh sẽ tạo ấn tượng càng sâu. Giống như khi ăn đồ ăn họ phải chế biến nhiều món có mùi vị khác nhau càng rõ ràng thì sự kích thích tại vị giác càng mạnh, càng tạo nên sự thích thú khi ăn, hoặc thường mọi người đều thích kiểu người có hình dáng cân đối với những đường cong rõ ràng, chứ ít ai lại thích kiểu người tròn quay, mập ú hoặc ốm o gầy còm là vậy. Ngoài ra khi tiếp xúc với đối tượng bên ngoài những đối tượng nào mới hơn sẽ gây ra sự thích thú cho con người hơn. Như ta thường hay thây đổi món ăn, hoặc không ai mà xem một bộ phim tới 2, 3 lần. Hoặc việc nghe nhạc cũng vậy khi có bài hát mới thì dễ gây ấn tượng nhiều hơn những bài hát củ. Khi thấy được bản chất thực sự của mắt xích Si Ái giúp ta bớt dính mắt vào cái đối tượng mà ta đang thích thú đang thèm khát.

Tổng hợp lại ta thấy mắt xích Si Ái này bao gồm 3 loại:

sự mê chấp vào sự cảm nhận sẽ hình thành nên loại si ái thứ nhất đó là ta sẽ tự nhiên mê thích khi bắt gặp một đối tượng nào đó ở bên ngoài phù hợp với một loại cảm nhận được hình thành do một nhận thức nào đó.  Điều này giải thích tại sao có anh thì thích đàn bà , có anh thì thích đàn ông, hoặc có cô thì thích đàn bà, có cô thì thích đàn ông. Đó là do sự chấp trước về cá tính của mỗi người có sự khác nhau nên sinh ra những sở thích khác nhau. Hoặc có người thì bị dính vào nhà cửa nhiều ai lấn 1 phân cũng không chịu nỗi, nhưng có người bị dính vào xe cộ nhiều xe mình mà bị xước 1 cái là không chịu nổi, đây là do mê chấp vào vật sở hữu mà ra.

Còn sự mê chấp vào các hình dung từ các loại cảm thọ sẽ hình thành nên 2 loại si ái nữa:

Loại thứ hai được hình thành là do mắt xích thọ gây ra, thọ chính là sự cảm thọ sau khi được tiếp xúc với một đối tượng nào đó. Trước tiên, là sự tiếp xúc tại các giác quan, một khi có sự tiếp xúc là có sự phản ứng, sự kích thích tại các dây thần kinh cảm giác, tín hiệu kích thích sẽ truyền tới não bộ tại đây nó lại diễn ra sự tiếp xúc lần thứ hai là sự xúc chạm giữa vô biểu sắc do phần thức tải lên được so sánh với những tín hiệu được truyền từ các giác quan đi tới, sự xúc chạm tại bộ não còn được gọi là tâm phân biệt, nó sẽ so sánh đối chiếu để cho ra một hình dung mới về cái đối tượng đó, một khi có cái hình dung mới này thì cái Si Ái tự nhiên phát khởi. Đây là loại si ái căn bản nhất không những các loài hữu tình có loại Si Ái này mà ngay cả những chúng sanh vô tình cũng có loại si ái này. Khi thấy được bản chất của loại Si Ái này sẽ giúp ta kiềm chế được cái lòng tham vô đấy của mình. Cái mới lạ thì vô cùng vô tận biết bao giờ mới được thỏa mãn, nên hãy biết hài lòng với những gì mình đang có. Sự thèm khát những món ngon vật lạ đều do loại tham ái này gây ra, cũng như các loại thời trang các dòng sản phẩm công nghệ như tivi, điện thoại, máy tính cũng không ngừng làm mới chủ yếu là tác động vào loại tham ái này. Nếu không thấy bản chất của loại Si Ái này thì khó mà giúp ta kiềm lại được trước những thứ mới lạ đó.

Và loại Si Ái thứ 3 là nhờ các đối tượng bên ngoài làm kích thích các giác quan gây ra sự chú tâm, sự chú tâm này là do sự chú ý của ý thức vào các sự kích thích mà khởi lên phân biệt, Sự khác biệt càng rõ ràng thì sự kích thích càng mạnh càng khiến ta chú tâm hơn từ đó mà sinh ra Si Ái. Bạn để ý sẽ thấy căn bản của mắt xích Si Ái này là do mắt xích Xúc gây ra. Sự chú tâm này là xảy ra tại mắt xích Xúc, mà theo pháp duyên khởi này chỉ có Thọ mới sinh ra Si Ái, vậy thì loại Si Ái này phát khởi lên là do đâu. Đó là vì trong tâm thức của mỗi chúng ta đang tích trữ một nguồn năng lượng rất lớn, nó khiến cho tâm trí ta một là giao động, bất an đứng ngồi không yên hoặc là nó sẽ khiến cho tâm trí ta trở nên nặng nề, u ám rất là trì trệ nên khi tâm ta được trụ lại một điểm nào đó sẽ giúp ta tạm thời quên đi những trạng thái đó từ đó mà sinh ra Si Ái. Nhưng khi không còn sự kích thích đó nữa thì tâm trí ta trở nên nặng nề và u ám hơn, mà trạng thái càng nặng nề u ám thì ta lại càng muốn tìm đến những thứ đó hơn. điều này giống như con nghiện vậy càng hít thì càng nghiện. Khi biết được nguyên tắc này ta sẽ biết được cách chế biến làm sao có món ăn ngon. Hoặc nhờ thấy được nó mà ta lý giải được tại sao ta lại thích kiểu người có hình dáng, khuông mặt cân đối với những đường cong rõ ràng, còn những người tròn quay, mập ú hoặc ốm o gầy còm thì không tạo cho ta nhiều ấn tượng mấy. Ngoài ra, đây cũng là căn nguyên khiến chúng ta tạo ra các trò chơi, phim ảnh, hay các chất kích thích v.v.. chủ yếu là để giải trí tiêu khiển nhằm quên đi sự giao động, bất an, sự u ám, nặng nề khi ta ngồi không chẳng có việc gì làm. Những cái mà ta ham muốn do loại si ái này tạo ra căn nguyên lại là do sự tích tụ năng lượng của sự mê chấp mà ra chứ hoàn toàn không phải là những cái mà ta thực sự cần đến. Nhờ thấu rõ được cái căn nguyên này nó sẽ giúp ta dễ dàng buông xã hơn.

Nhìn lại Loại Si Ái thứ nhất ta thấy nó nảy sinh ra không phải do sự chú tâm ở mắt xích xúc, cũng không phải do mắt xích thọ mà do một sự mê chấp vào một cái cảm nhận nào đó bên trong, nhưng nếu không cho nó tiếp xúc với cái duyên bên ngoài thì cái Si Ái cũng không thể xảy ra. Từ đó ta thấy 3 loại Si Ái trên có một điểm chung là chúng đều nảy sinh là do chúng có sự tiếp xúc giữa bên trong với bên ngoài

Mà muốn đoạn được mắt xích xúc thì ta chỉ cần đoạn mắt xích lục nhập là được. Mà thiền định chính là tác động vào mắt xích lục nhập, là hạn chế không cho 6 giác quan tiếp xúc với những cái duyên bên ngoài. Nên những người tu thiền mặc dù chưa phá được vô minh chưa đoạn được khởi tâm động niệm nhưng họ vẫn cảm thấy được an lạc là do họ hạn chế được mắt xích này khiến Si Ái không thể phát sanh. Nhưng vì chưa đoạn được vô minh nên khi định công hết thì họ phải đối duyên xúc cảnh từ đó mà khó tránh khỏi phiền não. Nên việc tu tập thiền định phải làm sao khai mở được trí tuệ phá được vô minh thì mới không còn bị thoái chuyển nữa.

 

Bây giờ chúng ta cùng quay lại mắt xích Vô minh là sự mê chấp. Trong 3 loại mê chấp về sự nhận thức thì ta thấy sự mê chấp về tính cách mà mình sở hữu, Và sự mê chấp về vật mà mình sở hữu đều có chữ mình trong đó nghĩa là đều có chứa sự mê chấp về cái bản ngã trong đó. Nên một khi loại bỏ được cái bản ngã thì 2 loại ngã sở và ngã tính đều không còn. Hoặc khi mất người mình yêu hoặc khi bị ai tước đoạt vật mà mình sở hữu thì cái bản ngã cũng bị tổn thương theo. Nếu như do vô ý ta làm mất một món đồ nào thì có thể chỉ có sự hối tiếc mà thôi, nhưng khi ta bị ai đó cướp lấy của mình thì nó sẽ sinh ra một ý niệm như là: tại sao hắn dám lấy của mình, lúc này vừa có sự hối tiếc lại vừa đụng chạm tới cái bản ngã, cũng tương tự vậy nếu người yêu của ta bị mất thì ta chỉ đâu buồn mà thôi, nhưng khi người yêu ta phản bội không những ta đâu buồn, mà cái ngã của ta cũng bị xúc phạm.

Và ta thấy sự mê chấp về tính cách mà mình sở hữu có sự dính mắc cao hơn cái vật sở hữu vì vật sở hữu chỉ là cái ngoài thân còn tính cách là cái thuộc về bản thân nên nó có ý nghĩa với bản thân ta nhiều hơn. Đó là lý do vì sao khi mất người yêu con người ta lại đâu khổ hơn khi mất một vật mà mình sở hữu.  Điều này chứng tỏ cái Si Ái do sự mê chấp về tính cách sẽ mạnh hơn cái Si Ái do sự mê chấp về vật sở hữu.

Ngoài ra sự mê chấp về tính cách mà mình sở hữu sẽ dẫn tới việc tiếp xúc với người khác phái. Khi đó nó lại phát sinh ra 4 loại mê chấp về sự hình dung từ các loại cảm thọ bao gồm âm thanh, hình dáng, mùi vị và sự xúc chạm của thể xác mà như ta biết thì sự cảm thọ về việc xúc chạm có tính si ái mạnh nhất. Đó là lý do vì sao việc yêu đương chỉ xảy ra khi con người hay con vật đã trưởng thành, nếu yêu đương lại xảy ra rất sớm thì tuổi thơ của loài người sẽ rất ngắn thì nó là điều bất hạnh cho nhân loại, vì quảng thời gian mà con người cảm thấy hạnh phúc và yêu đời nhất lại chính là khoảng thời gian còn ngây thơ trong sáng, nên tuổi thơ còn được gọi là tuổi thần tiên.

Sự mê chấp về tính cách mà mình sở hữu không những bao gồm bản ngã trong đó mà còn có sự dính mắc rất cao, cao hơn cả những thứ đồ vật mà mình sở hữu, ngoài ra còn kéo theo 4 loại mệ chấp về sự cảm thọ. Nên đây là lý do tại sao khi bị người yêu phản bội thì từ yêu thương họ liền có thể chuyển sang hận thù và nguyền rủa đối phương thậm chí có thể tạt axit cho đến dám giết cả người yêu của mình.

Trong các loại mê chấp vào hình dung về các loại cảm thọ, ta thấy cảm thọ về ý chính là ý thức là một loại nhận thức có mức độ phức tạp hơn mạt na thức. Nên loại mê chấp này chính là sự kết hợp của cả hai loại mê chấp, ta đặt tên cho nó là loại mê chấp vào sự hình dung về nhận thức.

Như vậy có 3 loại mê chấp vào sự nhận thức, 5 loại mê chấp vào sự hình dung về các loại cảm thọ và 1 loại mê chấp vào sự hình dung về nhận thức trong đó chỉ có sự mê chấp về cảm thọ của ý thức hay còn gọi là sự mê chấp vào sự hình dung về nhận thức thì chỉ có ở loài người mới có còn 8 sự mê chấp còn lại đều thuộc về phần con. Trong 9 loại mê chấp này thì khi càng lên cao độ mê chấp tăng dần và độ si ái giảm dần. Nên đối với sự si ái do thể xác mang lại liên quan tới thân thức thức kết nối với xúc giác liên hệ với chất rắn là địa đại thì người ta gọi nó là đam mê khoái lạc, sự ham mê ăn uống những thứ cao lương mỹ vị liên quan tới thiệt thức kết nối với vị giác liên hệ với nước giải là thủy đại người ta gọi đó là ham muốn hưởng thụ, thích ngửi mùi thơm liên quan tới tỷ thức kết nối với khứu giác liên hệ với không khí là gió là phong đại người ta tìm đến hương thơm thường là để cho tinh thần thêm sự phấn chấn, thích ngao du sơn thủy thích nhìn ngắm phong cảnh liên quan tới nhãn thức kết nối với thị giác liên hệ với ánh sáng là hỏa đại thường là giúp cho đầu óc được thư giản và thoải mái, thích nghe nhạc liên quan tới nhĩ thức kết nối với thính giác liên hệ với sóng âm là nhờ phong đại kết hợp với không đại, âm nhạc có thể giúp tinh thần ta được thăng hoa lên. Ngoài ra còn một con mắt nữa người ta hay gọi là con mắt thứ 3 có khi gọi là thiên nhãn nó có thể thấy được các trường sinh lực là nhờ không đại kết hợp với hỏa đại đa số loài người chưa mở được thiên nhãn nên chưa ai đặt loại sở thích này là gì  … Như vậy ta thấy càng lên cao thì độ Si Ái càng tăng, thế nào là độ si ái cao, độ si ái thấp bạn có thể hình dung nó giống như là độ kết chặt của vật chất, vật nào có độ liên kết chặt nhất thì nó có trọng lượng cao nhất, như chất rắn là cao nhất, nên khi bạn thỏa mãn những khoái lạc thể xác nó sẽ tạo ra một sự liên kết rất chặt với đối tượng đó, nghĩa là thời gian rất lâu thì ấn tượng này mới phai mờ. Loại Si Ái này khiến tâm trí con người trở nên nặng nề, u ám và trì trệ hơn các loại Si Ái khác. Và ngược lại nếu ta thích truy cầu danh vọng, địa vị, bằng cấp sẽ làm cho cái bản ngã lớn dần điều này sẽ khiến cho tâm trí của bạn trở nên giao động, bất an, đứng ngồi không yên, rất dễ nỗi sùng rất dễ thượng cẳng chân hạ cẳng tay nhưng mức độ Si Ái, mức độ nặng nề thì không bằng những cái phía dưới, nghĩa là càng lên cao tính chất động sẽ tăng dần nghĩa là khi sự mê chấp tăng cao nó sẽ rất dễ phát ra hành động dù bạn có muốn kiềm chế cũng khó mà được, nên sự mê chấp vào bản ngã sẽ cao hơn sự mê chấp vào sự hình dung từ các sự cảm thọ, như khi bạn bị ai đó cướp mất món ăn ngon món ăn lạ mà bạn thích thường là chẳng khi nào vì điều này mà khiến bạn phải thượng cẳng chân hạ cẳng tay cả nhưng khi bị ai đó xúc phạm vào cái bản ngã của mình thì bản rất dễ thượng cẳng chân hạ cẳng tay lắm, và ngược lại khi càng xuống dưới thì tính nặng nề, u ám sẽ tăng dần. Nên nguyên lý tăng và giảm của 2 loại tham ái là sự mê chấp và si ái vẫn hoàn toàn chính xác. Chỉ có sự si ái do ý thức mang lại là nhẹ nhất nhưng nếu ý thức không được dẫn dắt theo đúng với chân lý mà nó cứ trâu dồi những suy tư lầm lạc thì nó sẽ làm cho tinh thần sao động dữ dội, suy nghĩ lung tung có khi không thể dừng lại được.

Nhưng đáng tiếc rằng những suy nghĩ của con người đa số đều là những thứ lầm lạc, Gần đây có một số các nhà khoa học bắt đầu để ý tới vấn đề nhận thức của con người họ làm nhiều thí nghiệm và họ thấy rằng, cái nhận thức của con người thường rất chủ quan nghĩa là cái nhận thức của chúng ta thường không nắm bắt được đúng thực tế khách quan. Nguyên nhân điều này là do đâu đó chính là do mắt xích thức là những kiến thức mà bộ não của chúng ta tải lên sẽ quyết định điều mà chúng ta hướng tâm tới hướng sự chú ý tới và như vậy khiến chúng ta dễ dàng bỏ sót những điều khác, những gốc nhìn khác hoặc những chiều sâu hơn. Và họ chỉ thấy một hướng đó mà thôi nếu không có người bên ngoài gợi ý những hướng nhìn khác, những cấp độ khác thì họ sẽ cứ sống trong sự lệch lạc như vậy mãi mà không hề hay biết. Rất may ngày nay các nhà khoa học, nhà triết học, các nhà tâm thần học đã làm nhiều thí nghiệm để giúp ta hình dung rõ hơn về vấn đề nhận thức của chúng ta, giúp ta hiểu rõ hơn về sự nguy hiểm của mắt xích Thức này, nhà Phật hay gọi nó là cái con khỉ ở trong đầu của mỗi chúng ta. Nếu không chịu hạ bản ngã của mình xuống rồi cứ nghe theo cái con khỉ đó thì ta khó mà lắng nghe được người khác nói khó mà thây đổi được gốc nhìn của mình. Nếu không chịu thây đổi lại cái con khỉ của mình thì chúng ta mãi mãi là ếch ngồi đáy giếng mà thôi. Người khôn và người ngu khác nhau chủ yếu là ở điểm này.

Nên việc nhận thức cần phải bám sát thực tế, mà thực tế thường là vượt qua khỏi những giác quan thông thường của con người nếu chỉ dựa vào cái nhận thức của loài người dựa vào những công cụ những thí nghiệm khoa học hoặc dựa vào những nền tảng toán học hiện đại như ngày nay mà không có được sự hướng dẫn từ một bậc giác ngộ thì con người cũng chỉ tiếp cận được cái chân lý tương đối mà thôi không thể thấy được thật tướng của các pháp.

Chân lý nhà Phật cũng phân ra làm 2 loại là chân lý tương đối còn gọi là tục đế, chân lý tuyệt đối được gọi là chân đế. Ngày nay con người dùng ý thức để tìm hiểu các quy luật biến hóa của vật chất, chính là họ đang theo đuổi chân lý tương đối gọi là tục đế, việc các nhà khoa học, bác học, triết học thích nghiên cứu khoa học, kỷ thuật thích tìm tòi phát minh sáng chế thích học hỏi những điều mới lạ, điều này như là con dao 2 lưỡi nếu biết sử dụng nó vào việc nâng cao chuẩn mực đạo đức truyền bá chân lý thì nó rất tốt nhưng ngược lại nếu tạo ra nhiều công nghệ hổ trợ cho nhu cầu ăn chơi hưởng thụ thì nó sẽ vô cùng tác hại, một khi những kiến thức khoa học hay cái sự mê chấp đạo lý này mà cứ tiến bộ mãi thì đủ các loại vật dụng công nghệ thiết bị xuất hiện trên thế gian khiến cho con người đua nhau mua cho bằng được, lúc đầu những công nghệ, thiết bị này chỉ có ở châu âu, châu mỹ bây giờ thì nó đã có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới, bây giờ con người khắp nơi trên thế giới đều ham thích những thứ đó, sự si ái của con người đúng là đang tăng trưởng khắp nơi. Đúng như câu nói trong kinh Thủ Lăng Nghiêm “Vì do vọng tưởng của các ngươi mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm, từ đó sanh ra si ái, si ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không, sự mê chấp tiến hóa không ngừng, nên sanh ra thế giới”. Nên có nhiều tôn giáo ở các nước phương đông không muốn chỉ dạy cho con người những kiến thức về khoa học là vậy vì lợi thì ít mà hại thì nhiều.

Chỉ có quay lại với tánh đức mới giúp cho thế giới được hài hòa, nhân sinh được hạnh phúc mà thôi. Đó là ngũ luân, ngũ thường, tư duy, bát đức đều là tánh đức nên không gây ra bất kỳ một tác hại nào mà còn mang lại cho xã hội loài người sự hài hòa và ổn định lâu dài. Nhưng khi mới sinh ra, loài người đã bị ảnh hưởng của bản ngã rồi và điều này sẽ khiến nó đi ngược lại với tánh đức. Vì thế mà đạo nho đưa ra ngũ luân nhằm kìm hãm cái bản ngã của con người xuống: 1/làm tôi phải trung với vua, 2/ làm con phải hiếu thuận với cha mẹ 3/ làm vợ phải theo chồng 4/ làm em phải nghe anh 5/ làm bằng hữu phải giữ chữ tín. Đạo nho tuy không giải thích cặn kẽ như bên phật giáo tiểu thừa nhưng họ biết rằng chính bản ngã là nhân tố khiến con người đi ngược lại với tánh đức.

Ngoài ra, ý thức của con người có khả năng phân biệt được kẻ tốt người xấu người nào đáng tin và kẻ nào không nên tin vì thế có những bậc thánh các bậc ở cõi trên xuất hiện ở thế gian giới thiệu cho họ về một cảnh giới tốt đẹp hơn sau khi chết, điều này lại sinh ra một thứ si ái mới loại si ái này không phải do sự tập trung tại các giác quan bị kích thích. Cũng không phải là loại si ái do thấy được một đối tượng bên ngoài phù hợp với một cái hình bóng nào đó được ấp ủ ở trong tâm, cũng không phải là loại si ái do học hỏi được những kiến thức mới, được tiếp xúc với những đối tượng mới. Mà loại Si Ái này được sản sinh khi con người cảm nhận được sự đâu khổ trên thế gian này và khi được các bậc thánh các bậc cõi trên giới thiệu một cảnh giới mới tốt đẹp hơn sự so sánh sự phân biệt giữa 2 cảnh giới này chính là mắt xích xúc, khi xúc chạm với nhau họ mới hình dung ra được sự thù thắng ở cảnh giới bên kia hơn cảnh giới mà mình đang sống là như thế nào từ đó mà phát khởi lên một lòng ham muốn vãng sanh về thế giới kia. Lòng ham muốn này cũng là một dang Si Ái nhưng vì sự si ái liên quan tới một cảnh giới mà họ chưa được tiếp xúc nên mọi người đặt cho loại Si Ái này là sự ước nguyện. Bây giờ ta mới hiểu được tại sao các tổ sư đại đức của tịnh độ tông đều nhấn mạnh đến 3 điều kiện là tín, hạnh và nguyện còn gọi là tam tư lương là 3 yếu tố quyết định tới việc vãng sanh của bạn. Tín ở đây chính là sự mê chấp sự tin tưởng vào Đức Phật tin tưởng vào chính mình đủ điều kiện vãng sanh tin thật sự có cảnh giới tây phương cực lạc, niềm tin này sẽ thúc đẩy ta hành động như thường thường nhớ , nghĩ tới cảnh giới tây phương cực lạc khi làm một việc gì có ích đều không mong cầu hưởng lợi ích đó chỉ mong sao có được sự yên ổn để chuyên tâm niệm Phật, chuyên tâm quán tưởng nhưng nếu chỉ niệm phật, quán tưởng với mục đích để đạt được sự nhất tâm mà không phát khởi lên được ước nguyện cầu vãng sanh thì cũng khó mà vãng sanh. Nên việc niệm Phật việc quán tưởng những điều thù thắng ở thế giới Tây Phương Cực Lạc phải đi kèm với việc ý thức được cái khổ sở cái ngũ trược ác thế ở thế gian này thì tự nhiên nguyện lực sẽ xuất hiện, còn nếu như đọc một bài văn phát nguyện sau mỗi thời khoa công phu cũng chỉ là việc làm trên miệng mà thôi không liên quan gì tới tâm nguyện cả. Muốn phát ra được cái tâm nguyện này chính là mắt xích Si ái trong thập nhị nhân duyên, muốn có si ái thì phải có thọ, thọ ở đây chính là sự hình dung về sự khác biệt giữa thế giới tây phương cực lạc và thế giới ta bà, mà muốn có Thọ thì phải có xúc, xúc ở đây chính là sự so sánh, sư phân biệt giữa 2 cảnh giới đó, muốn có xúc phải có lục nhập, lục nhập ở đây chính là kinh điển là những thông tin về cảnh giới tây phương cực lạc được mô tả trong kinh điển, mà muốn có lục nhập phải có vô biểu sắc, vô biểu sắc chính là sự hình dung về cảnh ngũ trược ác thế ở thế giới ta bà này, chính vì thấy được cái khổ ở thế giới ta bà mà con người khao khát muốn được thấy được biết tới một cảnh giới khác tốt đẹp hơn, từ đó khiến ta tập trung quán tưởng, tập trung tụng kinh hơn nên vô biểu sắc lại duyên cho lục nhập, muốn có vô biểu sắc thì cần phải có thức, thức ở đây chính là những kiến thức về cái thế giới ta bà này, muốn có thức thì phải có hành, hành ở đây chính là hành động là công phu niệm phật, quán tưởng là sự quyết tâm buông xã vạn duyên ở thế gian này, khi bạn chân thật công phu tức là bạn thật sự buông xả vạn duyên mà muốn hành động buông xả này xảy ra thì bạn phải phát khởi lên được một nhận thức về những khổ đâu không thể tránh khỏi ở cái thế giới Ta Bà này vì hành động xả ly chủ yếu là vì cái nhận thức này mà ra. Như vậy ta thấy thức phải duyên cho hành mới đúng tại sao ở đây hành lại duyên cho Thức. Việc này cũng giống như hành vi lái xe, nhờ có kiến thức lái xe thì ta mới có hành vi lái xe nếu chưa có đầy đủ về kiến thức lái xe mà đòi lái xe thì chỉ có gây tai nạn mà thôi, nhưng khi lái xe thì kiến thức lái xe phải được tải lên não bộ nếu không thì chỉ là ngồi chơi trên xe chứ không thể lái được xe. Nên hành duyên cho thức là vậy. Vì nếu ta có hành động mà không có một cái thức nào tải lên não bộ thì hành động này giống như là bị ai ép buộc làm chơi chơi cho có làm, nhưng đầu óc đang để ở đâu đâu không có một nhận thức nào được tải lên não bộ để điều khiển cái hệ thống đó, nghĩa là cái hệ thống này thật sự không có hoạt động, muốn cho hệ thống này hoạt động thì phải có một cái nhận thức nào đó tải lên não bộ để điểu khiển cơ thể. Nếu bạn công phu cho có lệ thì việc tụng kinh của bạn chỉ là việc tụng kinh suông mà thôi. Như người ta hay nói là “Đau mồm rát họng cũng uổng công”. Người tu hành ngày nay thường hay mắt sai lầm ở điểm này tuy có tin tưởng có quyết tâm ngày ngày có lên công phu lên tụng kinh niệm Phật nhưng ước nguyện vãng sanh thì vẫn không tăng trưởng nhưng lại không chịu tìm hiểu tại sao. Nên một đời tu hành vẫn không được vãng sanh. Mà muốn vãng sanh quan trọng nhất là cần phải có nguyện lực, nguyện lực mới có thể thắng được nghiệp lực, nghiệp lực chính là những vết mòn là những lối đi đã hằng sâu trong tâm thức của ta, những lối mòn này nó sẽ dẫn dắt sẽ hướng tâm thức của ta chạy theo cái chiều hướng đó. Có nhiều việc mà con người ta không muốn nghĩ tới, có những hành động con người ta không muốn làm nhưng rồi họ vẫn cứ nghĩ tới và rồi họ vẫn cứ làm. Đây gọi là sức mạnh của nghiệp lực. Đây cũng là căn nguyên của việc rây rức lương tâm về những tội lỗi mà ta đã làm. Mà những lối mòn này được tạo là do ta thường hay đi trên những lối đi đó mới tạo ra những lối mòn. Giống khi đi học về ta phải ôn đi ôn lại những kiến thức quan trọng để tạo ra những ấn tượng để nó có thể tồn tại lâu trong tâm thức của ta. Và vì sao ta lại hay đi trên những lối đi đó chỉ có một lý do duy nhất đó là vì ta thích thứ gì đó trên lối đi đó. Việc hay đi trên những lối đi đó chính là mắt xích thủ là sự gìn giữ, sự bảo tồn cái lối đi đó từ đó mới tạo nên những lối mòn tồn tại rất lâu trong tâm thức của ta. Mà nguyên nhân của Thủ là do Si Ái. Nên căn nguyên của nghiệp lực chính là do Si Ái là do ta thích thú những thứ gì đó trên cái thế giới Ta Bà này nên muốn dẹp bỏ cái Si Ái này nó cần phải được thây thế bởi một loại si ái mới không liên quan gì tới cõi Ta Bà này, mà những cái không liên quan gì tới cõi Ta Bà là những cái ta chưa hề tiếp xúc tới, nên cái Si Ái này chỉ là những ước nguyện mà thôi. Tuy chỉ là ước nguyện nhưng nó cũng tạo ra được một lối mòn mới, khi mất đi. thân xác không còn, não bộ cũng bị hư hoại, ý thức, mạt na thức đều không có chổ hoạt động, lúc này chỉ có thần thức là hoạt động mà thôi có khi ta gọi nó là tiềm thức, tiềm thức hoạt động như một dòng nước, nó sẽ chảy theo những rãnh nước có sẵn, những cái rãnh này được tạo ra khi nào, nó được tạo ra từ những lối mòn mà ta đã tạo ra khi lúc còn sống. Lối mòn này dẫn ta tới đâu thì nó sẽ hướng thần thức đi về hướng đó và sẽ tái sanh ở đó. Nên mới nói rằng Nguyện lực phải thắng được nghiệp lực mới có thể vãng sanh. Nghĩa là cái lối mòn do nguyện lực tạo ra phải sâu rộng hơn những lối mòn do nghiệp lực tạo ra. Vậy thì tại sao trong lịch sử của pháp môn tịnh độ có những người cả đời không gập được pháp môn tịnh độ nhưng khi lúc gần lâm chung gặp được bậc thiện tri thức khai thị chỉ vừa mới biết pháp môn tịnh độ chưa có sự huân tập nhiều nhưng lại được vãng sanh, còn có nhiều người có khi đã biết đã tin pháp môn tịnh độ cũng đã quyết tâm công phu tu tập nhưng đến cuối đời lại không được vãng sanh. Căn nguyên tại do đâu, như ta thấy khi mà sắp lâm chung là những người đang đối diện về cái chết không còn hy vọng về tương lai ở cái thế giới này nữa, những người lúc sắp lâm chung thường mắc phải những thứ bệnh tật nặng nề nên đó là lúc thấm thía được nỗi khổ cùng cực ở thế gian này lúc này mà có thể tiếp xúc được Thế Giới Tây Phương Cực Lạc, tâm phân biệt so sánh khởi lên, thì tự nhiên nguyện tâm sẽ phát khởi, và chính cái nguyện này sẽ dẫn tâm thức đi về hướng đó, nếu ngay lúc đó thọ mạng vừa hết những vết mòn trong tâm thức họ đã tạo trong quá khứ chưa khởi hiện hành, thì thần thức sẽ phải theo nguyện lực còn đang hiện hành ở đó mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Còn tại sao có người tu hành đã lâu mà lúc lâm chung không được vãng sanh, quan trọng nhất là ở cái niệm sau cùng, cái gì sẽ khởi hiện hành vào lúc đó. Nếu bạn tu đã lâu nhưng vẫn còn xen tạp nhiều ước nguyện khác còn huân tập nhiều tham ái ở thế gian này việc công phu thì thực hiện rất máy móc nguyện lực không được tăng trưởng bao nhiêu, cuối cùng nghiệp lực vẫn là mạnh hơn nguyện lực thì xác xuất mà bạn vãng sanh theo vậy mà tính cũng rất là thấp nên chuyện vãng sanh của bạn cũng rất là hy hữu. Nguyên Lực mới chính là kết quả cho công phu tu hành của ta, mà muốn có kết quả xảy ra thì cần phải có nhân và duyên. Cái nhân quan trọng nhất chính là niềm tin, có sự thâm tín mới thúc đẩy ta thực hành, việc thực hành chính là tiếp cận với cái duyên bên ngoài nếu đầu óc ta lơ là không tập trung vào vấn đề công phu tụng niệm thì có nghĩa là cái duyên bị thiếu nên cái quả là sự nguyện thiết không xảy ra. Mà cái duyên bị thiếu là do ta hành động qua loa cho có lệ không phát khởi lên được cái nhận thức về khổ đâu ở thế giới ta bà này nên việc hành trì chỉ có lệ mà thôi, do đó cái quả ước nguyện không thể xảy ra. Nên các vị Tổ Sư Đại Đức đã đúc kết lại 3 yếu tố chính là Tín, Hạnh và Nguyện gọi là tam tư lương đại biểu cho nhân, duyên và quả.  Đại biểu cho cái nhân là chữ Tín tương đương với mắt xích mê chấp, trong trường hợp này ta gọi nó là mê tín cho gọn. Còn đại biểu cho cái duyên là chữ Hạnh, Hạnh ở đây không chỉ có mắt xích Hành mà còn có mắt xích thức duyên cho vô biểu sắc rồi cho tới lục nhập nhưng quan trọng là phải có thức nó mới điều khiển cho cái hệ thống nhân duyên quả báo được vận hành. Còn đại biểu cho cái quả là chữ Nguyện là mắt xích Si Ái. Ngài Ngẫu Ích có phát biểu rằng “Vãng sanh hay không là do có Tín, Nguyện hay không, còn phẩm vị cao hay thấp là do Hạnh sâu hay cạn”. Như ta thấy Mê Chấp và Si Ái là 2 căn nguyên tạo nên cái đường mòn trong tâm thức của ta, vì thế muốn tạo ra một cái đường mòn khác thì phải thây thế 2 thứ này bằng Tín và Nguyện mà không cần phải loại bỏ 2 thứ này nhưng cũng có thể thoát lý sanh tử. Đây chính là pháp phương tiện dễ dàng nhưng thù thắng nhất có thể giúp cho tất cả phàm phu đều có thể giải thoát. Mặc dù cái tín này mang hơi hướng của sự mê tín nhưng lại có thể giúp ta thoát ly khỏi 10 pháp giới. Nên trong kinh Hoa Nghiêm Phật có nói rằng “Niềm tin là mẹ của mọi công đức”.

Và một khi được vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc thì đồng nghĩa là thoát ra 10 pháp giới bao gồm cả lục đạo luân hồi. Nên pháp môn tịnh độ còn gọi là hoành siêu, hoành là ngang siêu là siêu thoát và không chỉ có siêu thoát lục đạo luân hồi mà còn siêu thoát cả 10 pháp giới. Mà như ta thấy muốn siêu thoát 10 pháp giới phải trải qua rất nhiều tầng bậc thứ nhất muốn giữ được tuổi thọ của mình không để bị tiêu trừ, thì người đó phải giữ được 5 giới làm được ngũ thường là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Còn nếu muốn  lên được cõi trời dục giới người đó thật sự thấy rằng cái thân này không phải là ta có thể linh hồn mới là ta, vì những dục vọng thấp hèn là phần con trong con người thúc dục mới sinh ra 4 thứ khổ là ái biệt ly, oán tăng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh, muốn thoát 4 cái khổ này phải hành được thập thiện. Muốn lên cao hơn nữa là sinh vào cõi trời sắc giới, họ phải tu thiền định chỉ khi nào không còn ăn uống nữa thì cái thân này mới không bị 3 cái khổ là sinh, lão và bệnh. Nhưng một khi có sinh là phải có tử. Nếu họ không muốn linh hồn đầu thai thì phải tiếp tục nâng cao cảnh giới thiền định là tứ thiền bát định để kiềm hãm linh hồn không để cho nó tái sinh vào bất kỳ cảnh giới nào. Nhưng một khi có linh hồn thì việc tái sanh là chuyện không thể tránh khỏi. Nên muốn không tái sinh cần phải dẹp bỏ được linh hồn là mắt xích hữu trong thập nhị nhân duyên. Nên phải tiếp tục nâng cao cảnh giới thiền định để thấy được căn nguyên của linh hồn là do 2 loại tham ái mà ra đó là sự mê chấp và sự si ái. Trong đó mấu chốt nhất là sự mê chấp vào bản ngã. A la hán là tầng thiền định thứ 9 tuy đã đoạn được hết các loại mê chấp nhưng sự cảm thọ khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần A la hán vẫn chưa đoạn được, nên  A la hán tuy đã hết kiến tư phiền não nhưng vẫn còn trần sa phiền não. Nghĩa là khi tiếp xúc với trần cảnh bên ngoài họ vẫn còn khởi tâm phân biệt sanh ra si ái là căn nguyên của phiền não, nên thường các vị A La Hán một khi thoát ra khỏi lục đạo luân hồi họ không muốn quay lại cõi trần mà như vậy thì không thể cứu độ chúng sanh. Nên Chư Phật, Bồ Tát thường khuyến khích A La Hán nên hồi tiểu hướng đại tiếp tục nâng cao hơn nữa, là đoạn được tâm phân biệt là sự mê chấp đạo lý của chân tâm căn nguyên cho sự cảm thọ sự kích thích tại các giác quan, một khi trở thành Bồ Tát thấy được các pháp như huyễn như hóa một vật cũng không có, lấy đâu có sự xúc chạm, sự tiếp xúc giữa các sự vật với nhau. Nên khi tiếp xúc với trần cảnh bồ tát không bị dính mắt, không khởi lên tâm phân biệt nghĩa là sự kích thích hay sự cảm thọ tại các giác quan đều không còn tức là đoạn được trần sa phiền não khi đó có thể tự tại vào trong cõi trần vào trong sanh tử cứu độ chúng sanh. Tiếp tục nâng cao hơn nữa là buông xã khởi tâm động niệm là cái căn bản vô minh khi đó mới thật sự thấy được cái chân ngã cái chân tâm, bổn tánh cái bản thể chân thật , lúc này mới được gọi là A Duy Việt Trí Bồ Tát phá được một phần vô minh chứng được một phần pháp thân  thấy lại được cái bản lai diện mục của mình trở về với pháp giới nhất chân, thấy được Tự Tánh đây mới là cảnh giới bất sanh, bất diệt vĩnh hằng bất biến.  Đây là hướng đi của các pháp môn thông thường giống như con sâu ở trong ống tre nếu muốn ra ngoài nó phải đục qua hết các mắt trong ống tre thì mới ra ngoài được, những cái mắt này đều nằm theo chiều dọc của ống tre. Còn pháp môn tịnh độ thì nó lại đục theo chiều ngang chỉ cần xuyên qua 1 lớp võ bên ngoài là thoát ra khỏi ống tre. Nên pháp môn tịnh độ mới được gọi là pháp hoằng siêu.

Trong kinh quán vô lượng thọ Đức Phật còn chỉ cho ta một phương pháp nữa có thể giúp bạn nắm chắc phần vãng sanh đó là dùng phương pháp quán tưởng, giữ cho tâm ý tập trung không sao lãng cho tới khi đắc được định, tâm nhãn sẽ mở ra, khi đó việc quán tưởng không chỉ là trong ý niệm mà khởi ra bằng sắc tướng bạn thấy những sắc tướng này không phải bằng nhục nhãn mà bằng tâm nhãn, tâm nhãn này một khi đã mở tức là mắt xích lục nhập được kết nối bạn có thể cảm thọ những sắc tướng như là đang thấy trực tiếp cảnh giới Tây Phương Cực Lạc vậy, niềm hoan hỷ sự hứng thú sẽ tự nhiên phát khởi đây là mắt xích thọ mà sinh ra si ái. Và khi có ái thì có thủ và hữu. Ái lực này có sức mạnh hơn nguyện lực rất nhiều nên việc bạn vãng sanh là nắm chắc phần trong tay. Mắt xích lục nhập này có công năng rất mạnh, một khi thiếu nó thì cái si ái không thể xảy ra, điều này là nguyên nhân chính giải thích được tại sao khi cơ thể ta trưởng thành căn môn được hoàn thiện thì sự khoái lạc thể xác mới xuất hiện rồi sau đó mới xuất hiện sự mê chấp về bản tính rồi từ đó mới sinh ra ái lực với người khác phái.

3 loại mê chấp về sự nhận thức mà cái gốc là sự mê chấp vào bản ngã là chính, nếu dẹp được cái bản ngã thì sự mê chấp về ngã tính và ngã sở đều không còn. Nên quy nạp lại thì chỉ còn 2 loại mê chấp chính là mê chấp về bản ngã, về những hình bóng, sắc tướng và loại thứ 2 là mê chấp về cảm thọ. Là phàm phu chưa tu tập thiền định thì việc đoạn trừ 2 loại mê chấp này là điều không thể. Nhưng nếu biết cách thường xuyên quán chiếu 2 loại mê chấp này sẽ giúp ta dễ dàng buông xả hơn, khiến tâm trí ta được ổn định hơn thì sẽ giúp cho ta dễ dạng tập trung vào việc tụng kinh, niệm Phật, quán tưởng cảnh giới cực lạc hơn.

Thứ nhất là quán chiếu về sự vô ngã sẽ giúp ta buông bỏ việc theo đuổi danh vọng hão huyền đã không có ngã thì cái danh có ý nghĩa gì.

Thứ hai khi quán chiếu về sự mê chấp và sự si ái ta sẽ thấy có một năng lượng tích tụ thêm vào trong tâm thức của ta mỗi khi ta hành động thỏa mãn một cái ham muốn hay một cái mê chấp nào đó. Nếu chạy theo những ham muốn thấp hèn thì cái năng lượng này sẽ tích tụ do mắt xích thủ mà ra thì nó sẽ khiến cho tâm trí ta càng nặng nề, u ám, trì trệ và ngược lại nếu hành động chủ yếu do thúc đẩy bởi một sự mê chấp vào một cảm nhận do một nhận thức nào đó tạo ra thì nó khiến cho ta bị lo lắng, sao động, bất an, đứng ngồi không yên. Đây là 2 trạng thái mà nhà Phật hay nói là trạo cử và hôn trầm rất có hại cho việc tu tập thiền định, cả 2 trạng thái này đều không tốt đều khiến cho tâm trí ta không thể có được sự an lạc và yên vui.

Thứ ba khi quán chiều về sự mê chấp là căn nguyên dẫn tới mọi hành động của ta, mà mê chấp là sự sai lầm một khi hành động theo sự chỉ bảo của nó thì chỉ có tổn thương và mất mát mà thôi, cái mất mát to lớn nhất là sự an định là cái mục tiêu chính yếu nhất mà biết bao các bậc thánh nhân phát hiện ra và ra sức tu tập thiền định để có được điều đó, nên trước khi hành động điều gì, khởi lên ý niệm gì thì hãy nên quán chiếu về điều đó để thấy được đâu mới thật sự là được, đâu mới thật sự là mất từ đó mà biết cách phải hành động thế nào.

Thứ tư là quán chiếu về pháp duyên sanh “cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không” một khi có là có hết một khi không là không hết, bạn không thể vừa muốn có lại vừa muốn không, như ngón tay của bạn không thể cùng một lúc sờ được 2 mặt của một đồng xu. Nghĩa là một khi bạn muốn có một thứ gì đó nghĩa là bạn đang được cái có thì khi đó bạn không thể nào có được cái không mà việc tu hành là ở chổ phải đưa mọi thứ về không. Và như vậy thì một khi có được cái có thì việc tu hành của bạn là con số không. Nếu bạn không muốn việc tu hành của mình trở nên công cốc, thì hay nên buông bỏ cái có kia đi. 4 sự quán chiếu này là thuộc về trí tuệ mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác có thể thấy được.

Thứ 5 là sự quán chiếu về Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Tâm là tâm nguyện muốn làm Phật để cứu độ cho tất cả chúng sanh. Một khi đứng trước Phật phát nguyện phát Bồ Đề Tâm thì có nghĩa là ta đã hứa với Phật là từ nay mọi hành động của ta đều là vì chúng sanh không cho phép ta làm bất kỳ hành động nào xuất phát từ những ham muốn ích kỷ cho bản thân. Thì khi gặp những sự cám dỗ nào đó mà nhớ đến lời phát nguyện này sẽ giúp ta không chạy theo nó. Nếu bạn phát được cái tâm này bạn chính là một bậc đại trượng phu, nói được và làm được.

Còn quán chiếu Thứ 6 là quán chiếu rằng mọi sự vật hiện tượng như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như chớp, hãy thường quán như thế, đây là câu nói quan trọng trong kinh kim cang, quán chiếu này là thuộc trí tuệ của hàng Bồ Tát mới có thể thấy được, không phải là cảnh giới A la hán hay duyên giác có thể chứng được. Đức Phật đã mất 22 năm để giảng về cái trí tuệ bát nhã này. Còn chúng ta khi áp dụng sự quán chiếu này sẽ giúp ta buông xả những hơn thua, phải trái, đúng sai, được mất mà ta đang gánh chịu. Vì mọi sự mọi vật đều như giấc mộng đêm qua đâu có gì là thật nên đâu có gì để mất thì đâu có gì để mà hối tiếc.

Quán chiếu thứ 7 là sự quán chiếu về chân tâm, bản thể, tự tánh chỉ khi về được với cái chân ngã này thì ta mới tìm lại được cái chủ tể thật sự, còn không mọi hành động mọi ý nghĩ mà ta khởi lên đều là bị điều khiển bởi vô minh bởi sự mê chấp sai lầm của ta mà ra, như vậy có nghĩa là sự tự chủ không có, cảm giác của một người làm chủ được chính mình và cảm giác của một người bị sai khiến không còn kiểm soát được mình như kẻ say sỉn như kẻ nghiện ngập là 2 trạng thái hoàn toàn trái ngược nhau. Nên hôm nào mà bạn khởi lên quá nhiều ý niệm  thì bạn cảm thấy như mình mất tự chủ, một cảm giác mệt mỏi khó chịu. Nhưng bữa nào bạn chịu khó lắng tâm cố gắng không để cho tâm thức mình chạy theo bất kỳ một ý niệm nào thì bữa đó bạn cảm thấy khoan khoái, dễ chịu, sáng suốt như mình làm chủ được mình vậy. Đó là vì mọi ý niệm mà bạn khởi lên đều xuất phát từ sự mê chấp mà ra, còn chân tâm, tự tánh, bản thể thì vốn không giao động, tự tánh bổn định thì như vậy khi bạn không chạy theo bất kỳ một ý niệm nào tức là khi đó bạn đang gần với chân tâm tự tánh bản thể của mình đây mới thật sự là chân ngã, chỉ có chân ngã mới là cái chân thật, còn những thứ khác là giả tạo hư vọng mà chạy theo những thứ giả tạo hư vọng tất sẽ làm cho tâm trí bạn điên đảo quay cuồng mất phương hướng khiến tâm trí bạn rối bời tự nhiên sẽ sinh ra đủ thứ lo âu, sợ hãi, đố kỵ v.v…Nên khi quay về được với chân ngã tức là kéo dài được khoảng thời gian tỉnh lặng giữa 2 ý niệm càng dài càng lâu thì tâm bạn sẽ càng được an ổn bạn sẽ có cảm giác như là làm chủ được số phận của mình, bao nỗi lo âu muộn phiền trước kia không cớ gì mà tự nhiên tan biến hết. Quán chiếu này là thuộc trí tuệ của các vị pháp thân đại sỹ hay còn gọi là A Duy Việt Trí Bồ Tát mới thể nhập được còn hàng bồ tát bình thường vẫn chưa thể nhập được, còn chúng ta dùng nó chỉ để khích lệ việc cố gắng không chạy theo bất kỳ một ý niệm nào trong lúc tụng kinh, niệm Phật hay ngồi thiền mà thôi.

Tại sao chúng ta lại dùng nhiều phương pháp quán chiếu như vậy, như ta thấy mỗi phương pháp có công năng đối trị những tập khí phiền não khác nhau. Nhất là thời buổi ngày nay vật dục cám dỗ rất nhiều con người lại không được giáo dục uốn nắng lúc còn nhỏ, nên tập khí phiền não rất kiên cố rất đa dạng, việc tu hành ngày nay giống như việc bơi ngược dòng nước vậy. Không thể dùng một pháp mà có thể đối trị hết mọi tập khí phiền não của con người ngày nay.  Nên chúng tôi cố gắng liệt kê ra hết càng nhiều phương pháp càng tốt.

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *