DUYÊN KHỞI GIÁO PHÁP TINH YẾU VÀ CỐT TỦY CỦA ĐẠO PHẬT TẬP 2 PHẦN 1

giáo pháp nền tảng của đức Phật có gì mới mẽ mà sau 3000 năm nó vẫn còn nguyên giá trị không hề bị mai một và cũng chưa hề thấy nó được đề cập ở bất kỳ tôn giáo nào, nền triết lý hay nền khoa học nào. Vậy giáo lý này đặc biệt ở điểm nào mà tới nay chỉ có Đức Phật mới khám phá ra. Giáo pháp nền tảng này có điểm gì đặc biệt mà khi nắm vững được nó thì sẽ giúp bạn gìn giữ được giới luật. Hôm nay chúng tôi sẽ cố gắng chia sẽ điểm đặc biệt này cho mọi người cùng được biết.

Ở bài chia sẽ lần trước chúng tôi có định nghĩa sơ qua về Pháp Giới Duyên Khởi cho mọi người biết, là pháp giới mà ở đó mọi hiện tượng đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi ra biến hóa. Và chúng ta đang sống trong loại pháp giới ấy. Và chúng tôi đã có nói qua về căn nguyên xuất hiện ra hiện tượng nhân duyên này là do vô minh, do một niệm bất giác khiến mình quên đi mất Tự Tánh lấy cái giả làm chân từ đó mà mê càng lúc càng sâu. Vậy bây giờ làm sao giúp mình nhớ lại được Tự Tánh, thấy lại được cái Bản Lai Diện Mục của mình. Nhà Phật nói dùng công phu thiền định để đột phá tất cả các tầng không gian duy thứ này thì chúng ta mới có thể trở về được Nhất Chân Pháp Giới, trở về được với Tự Tánh. Thiền Định chính là sự dừng lại, dừng lại là dừng cái điều gì. Đó là dừng lại sự giao động, như các nhà khoa học phương Tây mới khám phá ra được rằng các hạt cơ bản thực chất chưa phải là cơ bản nhất ? Sâu vào bên trong các hạt cơ bản này, còn có những thứ khác. Thứ khác này nhảy nhót trong các sợi năng lượng. Nó trông như một sợi dây dao động  đó là nơi bắt nguồn của lý thuyết dây. Từ sự dao động này mà tạo ra vô lượng vô biên các tầng không gian duy thứ khác nhau. Chỉ khi nào dừng lại được sự dao động này thì ta mới có thể đem không gian trùng trùng vô hạn độ này đột phá. Cái tốc độ dao động này là bao nhiêu như trong kinh Phật ngài có nói rằng là khoảng 1600 ngàn tỷ lần / 1 giây. Với phàm phu người trần mất thịt như chúng ta chỉ với 24 hình/ giây là đã bị đánh lừa rồi. Vậy thì phải định như thế nào thì mới tới được trình độ đó. Trong kinh Phật cũng có nói phải từ Bát Địa Bồ Tát trở lên mới có thể thấy được một niệm vi tế này.

Nhưng muốn được an định, trước tiên phải làm cho cái tâm nó an cái đã khi có thể bình an được thì lúc đó mới nói tới vấn đề thiền định. Có phải chúng ta luôn cảm thấy khó chịu khi ngồi không một mình, nên thường hay tìm việc gì đó để làm, tìm cái gì đó để xem, tìm người nào đó để tán gẫu, rồi thích cái này ghét cái kia đem mọi chuyện yêu ghét này để ở trong lòng vướng mắc không sao giải tỏa nỗi. Mới xem qua ta tưởng đây là một chuyện bình thường đơn giản, rất dễ giải quyết, và chính vì coi thường chuyện này nên nhiều người chỉ chú trọng đến chuyện thiền định nhưng đa số chỉ kiên trì được vài năm rồi thất vọng vì không biết rằng muốn được định trước tiên phải làm cho cái tâm nó an cái, nên cho dù có nhiều người đã quyết tâm vào rừng sâu núi thẩm để tu tập nhưng khi về đời họ lại vẫn bị danh văn, ngũ dục lôi kéo dụ dỗ rồi từ từ xa ngã. Vậy thì căn nguyên tại đâu mà nó lại không đơn giản như vậy. Đó là bởi vì chúng ta đang sống trong Pháp Giới Duyên Khởi, đã là duyên khởi thì sự tăng trưởng, sự biến hóa của nó là không cùng tận. Mỗi chúng sanh sinh ra trong pháp giới này là đã bị mắt kẹt vào cái guồng máy tinh vi đó. Muốn thoát ra khỏi cái hệ thống đang vận hành này không phải là chuyện đơn giản. Giống như một guồng máy đang chạy nếu bạn dùng sức lực để dừng nó lại thì cũng chỉ là chuyện nhất thời mà thôi. Nhất là trong thời đại ngày nay, muốn dừng cái cổ máy này lại chỉ có một cách duy nhất là bạn phải tìm ra được các thành phần của nó và thấy rõ cái nguyên lý nguyên tắc hoạt động của nó thì may ra mới có thể dừng được. Nhưng tốc độ chuyển biến của cái guồng máy này là bao nhiêu như trong kinh Phật đã nói là khoảng 1600 ngàn tỷ lần trên giây, nên chuyện muốn biết được cái nguyên lý nguyên tắc hoạt động của nó không phải việc phàm phu như chúng ta mà có thể nghĩ ra được, chỉ có nương vào kinh điển của Đức Phật may ra mới tìm ra được những mắt xích đó. Nhưng việc quan trọng nhất và trước tiên nhất là chúng ta phải xác định cho được cái mấu chốt khiến cho cái guồng máy này vận hành thì dần dần ta mới  có thể lần ra được các mắt xích còn lại. Nếu không thì cho dù có nghiên cứu trăm kinh vạn quyển thì việc lạc đường cũng là chuyện bình thường.

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật có nói rằng: “Vì do vọng tưởng của các ngươi mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm, từ đó sanh ra si ái, si ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không, sự mê chấp tiến hóa không ngừng, nên sanh ra thế giới, vậy thì mười phương vô số quốc độ đều do vọng tưởng kiến lập”. Như vậy ta thấy sự mê chấp đạo lý có sự tiến hóa theo thời gian nhờ đó mà kiến lập nên thế giới, còn Si Ái thì sanh trưởng khắp nơi nghĩa là có sự tăng trưởng theo không gian, nên có tánh hư không, tánh hư không có công năng như thế nào? Nhờ một nguyên lý quan trọng của khoa học hiện đại sẽ giúp ta tìm ra được điều đó. Đó là nguyên lý bất định, Nguyên lý này phát biểu rằng: “Ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác.”

Vị trí là một khái niệm đo đạt dùng để xác định một khu vực một phạm vi hoạt động hay khoảng không gian hoạt động của một hạt nào đó, phạm vi hoạt động càng nhỏ thì càng khó xác định được vị trí của nó một cách chính xác, mà theo công thức của nguyên lý bất định thì khi việc xác định vị trí mà kém chính xác thì sẽ làm cho cái  vận tốc tối thiểu của hạt phải rất là lớn.

Điều này giải thích tại sao các hạt điện tử không thể nằm gọn trong hạt nhân, mà luôn phải quay xung quanh hạt nhân với một vận tốc rất lớn mặc dù điện tử và hạt nhân mang điện tích trái chiều nhau. Đó là khi ta giam điện tử vào trong một không gian chật hẹp như hạt nhân việc này chính là tác động vào phần phạm vi hoạt động của hạt điện tử thì nó sẽ vùng vẫy chạy ở trong đó với một xung lượng rất lớn, khiến ta không thể ép sát hạt điện tử dính chặt vào hạt nhân được.

Điều đó cho ta thấy rằng khoảng không gian giữa các hạt cơ bản có tác dụng phân tách các hạt với nhau nhằm duy trì, gìn giữ sự tồn tại của chúng, nếu không có khoảng không này thì mọi thứ đều nhập vào làm 1, vạn vật không thể hình thành, khi đó chỉ có một vật duy nhất mà thôi.

Video clip mà quý vị được thấy trên màn hình là 1 video clip giải thích về công thức nguyên lý bất định, công thức này không chỉ giải thích được hiện tượng tương tác về khoảng cách giữa các hạt vi mô lên vận tốc của hạt, mà từ công thức này có một vị giảng sư tại trường đại học anh quốc đã sử dụng nó và tính toán ra được công thức của Lực vạn vật hấp dẫn mà nhà khoa học Newton tìm ra vào thế kỷ 16  được áp dụng để tính lực tác dụng từ xa, qua khoảng không gian giữa các vật thể vĩ mô. Hệ thức bất định này khi áp dụng cho thế giới vi mô nó cho ta thấy được khoảng không gian giữa các hạt có tác dụng tách bạch các hạt không cho chúng sát nhập vào nhau, còn khi áp dụng cho thế giới vĩ mô nó cho ta thấy được khoảng không gian giữa các thiên thể có tác dụng kéo chúng lại với nhau không cho chúng chạy ra xa nhau nhằm duy trì, gìn giữ một thế giới ổn định nhờ đó mà thế giới mới có thể phát triển được. Cái này nhà Phật gọi là tánh hư không.

Như vậy ta thấy rằng sự Mê Chấp Đạo Lý có công năng sáng tạo, kiến lập ra thế giới với sự tiến hóa theo thời gian, còn Si Ái có công năng gìn giữ thế giới và sanh trưởng theo không gian. Cả 2 đều có sự tương quang và hổ trợ lẫn nhau.

Ngoài ra Hệ thức bất định Heisenberg còn là biểu thức toán học về đặc điểm lưỡng tính sóng hạt của vật chất, nghĩa là trong mọi sư vật đều có tính chất sóng lại vừa có tính chất hạt, sóng là phần động và hạt là phần hữu hình là 2 phần không thể tách rời của mọi sự vật. Từ đó cho ta thấy rằng không gian và thời gian, cái hữu hình và cái động, cái vị trí và vận tốc của một hạt hoặc của một dạng vật chất bất kỳ nào đó đều có mối liên hệ, có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau.

Vậy thì sự Mê chấp đạo lý và Si Ái cũng vậy cũng có sự ảnh hưởng, sự tương tác với nhau, nó như 2 mặt đối lập của cùng một thực thể nên không thể tách rời Như có cái bên trái thì phải có cái bên phải, có sanh thì phải có diệt, có âm thì phải có dương. Cái thực thể cái mối liên hệ này là gì các nhà khoa học chưa nói rõ, nhưng bên Đạo Lão thì họ đã phát hiện ra được cái thực thể cái mối liên hệ này.

 “Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng sự vật. vạn vật phát sinh ra từ Đạo, nhưng làm cho vật nào hình thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức. Nếu Đạo là cái Tĩnh vô hình thì Đức là cái Động hữu hình của Đạo. Nếu Đạo là bản thể của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ”

Vạn vật khi đã sinh thành rồi thì  mỗi vật đều tích lũy Đạo và Đức nơi mình để sống và tiến hóa. Những yếu tố làm nên sự trưởng thành của vạn vật Lão Tử đặt tên là Đức.

Như vậy Đức là cái Động hữu hình của Đạo, ta thấy cái Đức lại gồm 2 phần, phần 1 là phần động, phần 2 là phần hữu hình. Cái động được xác định bởi thành phần vận tốc, cái hữu hình được xác định bởi một khu vực phạm vi hay khoảng không gian, đây là 2 mặt của cùng một thể nên không thể tách rời. Vậy thì cái mối liên hệ, cái thể của 2 mặt đối đãi này là gì đó chính là Đạo là cái tĩnh lặng, vô hình là bản thể của vũ trụ, mà vạn sự vạn vật đều phát sinh ra từ đó. Như Đạo Lão có câu “Cái Dụng () của Đạo tạo ra âm dương, nhị nguyên, những cặp đối đãi và từ sự biến hoá, chuyển động của âm dương mà phát sinh thế giới thiên hình vạn trạng.”  Bên nhà Phật thì đặt cái này là Nghiệp Tướng hay còn gọi là Như Lai Tạng, là nơi chứa đựng mọi thông tin được dùng để tạo dựng nên 2 tướng còn lại là chuyển tướng và hiện tướng. Giống như ổ cứng máy tính là nơi chứa đựng thông tin của cả 2 phần , 1 là phần chương trình phần mềm, 2 là phần cơ sở dữ liệu. Ổ cứng giống như là nghiệp tướng nơi chứa đựng mọi thông tin, và khi máy tính hoạt động thì đoạn mã của chương trình phần mềm được tải lên trước nhằm điều khiển bộ vi xử lý truy cập dữ liệu và xử lý các dữ liệu phần này giống như phần chuyển tướng là phần động, và sau khi dữ liệu được xử lý nó sẽ được lưu xuống và cho hiện ra trên màn hình cái này gọi là phần hiện tướng là phần hữu hình. Nhà Phật gọi 3 tướng này là tam tế tướng là 3 tướng vi tế tạo dựng nên vũ trụ.

3 tướng vi tế này không chỉ có trong nhà Phật đã phát hiện ra mà trong lịch sử trí tuệ nhân tạo của loài người có một nhân vật cũng phát hiện ra được tầm quan trọng và ý nghĩa của 3 tướng vi tế này, đó là nhà toán học Alan Turing. Đó là vào thời kỳ ngành tự động hóa còn đang phát triển, chiếc máy tính có thể tự động chạy được nhiều bước để giải một bài toán nào đó được điều khiển bởi một chương trình khắc trên giấy hay miếng thép, và chương trình này chỉ giải được cho một bài toán cụ thể nào đó. Khi cần giải bài toán khác phải dùng một miếng thép khác dành cho bài toán đó. Đây là một điều vô cùng bất tiện, Và Alan Turing nhà toán học người Anh đã chứng minh được một bài toán đặc biệt đó là “Bất kỳ tính toán nào nếu giải được, dù phức tạp đến đâu, đều có thể phân thành một loạt các bước đơn giản riêng rẽ”. Như vậy phần cứng thây vì chỉ thiết kế thực thi một chương trình cố định để giải quyết một bài toán cụ thể nào đó thì bây giờ nó chỉ cần đảm nhiệm thực thi các bước đơn giản, riêng rẻ này và chỉ cần thêm một phần mềm do con người viết ra có nhiệm vụ lựa chọn và sắp xếp các bước đơn giản này lại là nó có thể giải được bất kỳ bài toán nào. Việc thiết kế phần cứng làm sao tập hợp được hết các mạch điện bao quát hết các bước đơn giản có thể có, là nhiệm vụ, mục tiêu chính yếu của bộ vi xử lý, và các bước đơn giản này đều không ngoài quy tắc là nhân duyên hòa hợp mà sanh ra biến hóa đây là phần chuyển tướng. Và công việc thứ 2 mà phần cứng đảm nhiệm là bước sau bao giờ cũng cần kết quả của bước phía trước để tính toán tiếp và cứ như vậy là có thể giải được bất kỳ bài toán nào, nhưng để lưu được kết quả của bước phía trước chúng ta cần phải gán giá trị này vào một đơn vị nào đó ta gọi là biến rồi lưu nó xuống một ô nhớ nào đó và đây là khởi nguồn của bộ nhớ, của ổ cứng là phần Nghiệp Tướng. phần Dữ liệu chính là những thông tin được nhập vào, là các biến tạm thời và kết quả cuối cùng sẽ được xuất ra thiết bị xuất như màn hình chẳng hạn, tuy màn hình chưa được ông đề cập tới trong bộ máy mà ông tưởng tượng ra nhưng phần Dữ liệu đã thể hiện được phần Hiện Tướng trong đó. Cái bộ máy này chỉ mới được ông tưởng tượng ra vì vào thời kỳ đó, công nghệ tự động còn đang phát triển, chưa có các ngành kỹ thuật công nghệ cao như các mạch điện tử, các con chip xử lý, và các công nghệ lưu trữ cũng còn rất thô sơ. Tuy thế, ông vẫn tiên đoán được rằng: Một ngày nào đó, các quý bà sẽ đem máy tính theo mình lúc đi dạo ở công viên và thích thú kể với nhau rằng: ‘Chiếc máy tính nhỏ của tôi nói rằng thời tiết sáng nay thật đẹp!’”

Để hình dung rõ hơn về những nguyên tắc hoạt động cơ bản của chiếc máy tính xin mời quý vị xem video clip sau:

Nhìn vào hình trên Ta thấy tất cả các mạch tích hợp hay các cổng logic đều tuân theo quy tắc là có 2 đầu vào và 1 đầu ra là kết quả, đúng theo nguyên lý tối hậu của loại pháp giới duyên khởi là mọi sự vật hiện tượng đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra, cái nhân và duyên là 2 đầu vào, cái sanh khởi ra là cái sự vật hiện tượng nào đó là đầu ra là kết quả.

Vậy phần mê chấp đạo lý liên quan tới phần nào của máy tính, trước tiên ta hãy định nghĩa đạo lý là gì đó là một quá trình chuyển hóa, chuyển biến dựa trên những nguyên lý nguyên tắc nào đó như các định lý, các tiền đề của toán học hay một học thuyết nào đó. Như gần đây các nhà khoa học lượng tử đã tìm ra một học thuyết hoàn chỉnh đó là “lý thuyết dây là một lý thuyết mà ở đó tất cả các lực và các hạt được miêu tả theo một lối hình học phong nhã, thiết lập vạn vật từ khung hình học của không-thời gian trong một hệ thống toán học hoàn toàn”. Một hệ thống biến hóa chặt chẽ logic của toán học cũng là một dạng đạo lý và Từ đó ta thấy phần mê chấp đạo lý này có sự liên hệ với chương trình phần mềm do con người viết ra, là những nguyên lý, nguyên tắc mà con người tạo ra để điều khiển máy tính theo đó mà hoạt động, phần chương trình này thì luôn hoạt động để điều khiển bộ vi xử lý, bộ vi xử lý có chức năng xử lý dữ liệu nghĩa là làm cho dữ liệu được chuyển biến, như vậy ta thấy Sự Mê chấp đạo lý nó liên quan tới chương trình phần mềm là phần Động, phần chuyển tướng mà đơn vị xác định của nó là vận tốc, chẳng hạn như tốc độ xử lý của Bộ vi xử lý ảnh hưởng đến tốc độ hoạt động của chương trình. Vậy phần còn lại là phần  Si Ái sẽ liên quan tới phần nào trong máy tính. Ta thấy Cơ Sở Dữ Liệu được hiện ra trên màn hình là phần hiện tướng, phần hữu hình, và đơn vị xác định của nó là khoảng cách, khoảng không gian. mà khoảng không cũng là tánh hư không. Và tánh hư không là do Si Ái mà có, như vậy rõ ràng Si Ái liên quan tới phần Hiện Tướng, tới phần cơ sở dữ liệu

Khái quát lại ta thấy sự mê chấp đạo lý và Si Ái có nhiều phương diện đối lập nhau, về mặt công năng thì phần mê chấp đạo lý có công năng sáng tạo, chuyển biến nhờ khả năng kết hợp nhân và duyên lại với nhau, còn đơn vị xác định cho sự kết hợp này là thời gian, tốc độ và đối tượng mà nó mê chấp là chương trình phần mềm, hằng số, đạo lý, các lực cơ bản trong tự nhiên những thứ này đều có tính chất vĩnh hằng bất biến không thể thây đổi, còn bên kia phần Si Ái có công năng gìn giữ, chấp trì, có khả năng biểu diễn, hiện ra thành hình tướng và đơn vị xác định cho cái hình tướng này là không gian vị trí, và đối tượng mà nó luyến ái là Dữ liệu, biến, những hệ quả, các hạt cơ bản các dạng vật chất và chỉ có giá trị tạm thời, có thể thây đổi, chuyển biến vì chỉ có giá trị tạm thời không lâu bền mà ta lại luyến ái nên Phật đặt nó cái tên là Si Ái nghĩa là ngu si.

Từ 4 nguồn kiến thức đáng tin cậy trên, Một là khái niệm Tam Tế Tướng của Phật Giáo, 2 là Đạo Lão, 3 là Vật lý lượng tử và 4 là công nghệ thông tin. Cho ta thấy được mối tương quang giữa tam tế tướng và 2 loại tham ái này có một mối liên hệ với nhau. Điều này sẽ là nền tảng vững chắc cho ta bước thêm bước tiếp theo. Bước đầu tiên là thứ quan trọng nhất nhưng cũng là nguy hiểm nhất, chỉ cần sai một ly là đi ngàn dặm. Vậy bước tiếp theo chúng ta cần xác định là 3 tướng vi tế và 2 loại tham ái cụ thể có mối liên hệ như thế nào và nó đóng vai trò ra sao trong cái hệ thống, cái guồng máy đang vận hành này.

Chân tâm, bản thể của chúng ta là cái vô hình, tĩnh lặng nhưng vì mê mất chân tâm, quên mất Tự Tánh nên khởi lên 2 loại tham ái này mà hư không thế giới được hình thành và không ngừng tăng trưởng. 2 loại tham ái này không ngừng ngơi nghĩ không ngừng biến hóa không ngừng vận hành, Và trong cái thế giới này lại xuất hiện 2 loại chúng sanh một là chúng sanh vô tình, và hai là chúng sinh hữu tình. Chúng sanh hữu tình là loại chúng sanh có tình cảm, cái tình này chính là vọng tâm và cái vọng tâm này là cái gần như vô hình, nhưng vô cùng linh động và cái vọng tâm này cũng có 2 loại tham ái tương tự khiến cho cái nhân sinh quang, cái thế giới quang của mỗi chúng sanh được hình thành và không ngừng tăng trưởng. Nhưng 2 loại tham ái ở trong chúng sanh hữu tình không phải lúc nào cũng hoạt động mà nó chỉ phát khởi khi chúng sanh hữu tình phát ra một hành động nào đó trên thân, khẩu , ý của mình thì nó mới được phát động, còn lúc ngủ say, chết ngất hay nhập định thì nó không hoạt động.  Giống như chiếc máy tính nó chỉ hoạt động khi chúng ta nhấn nút khởi động. Khi ta tắt máy thì cũng giống như ta đi ngủ vậy. Và những thông tin trong cái ổ cứng này cũng giống như vọng tâm của chúng ta vậy vô hình, nhưng  lại chuyển động rất là nhanh. Như vậy cái Đạo Lý mà chúng ta mê chấp được cất chưa trong vọng tâm là gì, đó là cái tư duy, cái nhận thức, cái kiến thức thuộc về phần ý thức của chúng ta, Phật còn đặt nó cái tên là Sở Tri Chướng, còn những thứ mà chúng ta luyến ái, yêu quý được cất chứa trong vọng tâm là gì, đó là những thứ sắc tướng, hình bóng, cảm thọ của chúng ta , Phật còn đặt nó cái tên là Phiền Não Chướng. Như vậy ta thấy có 2 cái hệ thống đang vận hành, một là cái tạo ra hư không thế giới 10 phương vô số quốc độ, và một cái hệ thống đạng tạo ra cái thế giới nội tâm được cất chứa trong cái vọng tâm của chúng ta, bên trong đó cũng có hư không, thế giới cũng đang ngày ngày tăng trưởng, nhưng những người phàm phu ở bên ngoài thì không thấy được cái thế giới này, đây là cái thế giới riêng bên trong của mỗi người.

Và Trong Kinh Ngài có nói rằng “mười phương vô số quốc độ đều do vọng tưởng kiến lập”  2 loại tham ái này đều là những thứ vọng tưởng nên cái hư không thế giới mà nó kiến lập cũng chỉ là hư vọng, vậy thì cái vọng tâm được tạo ra từ cái thế giới hư vọng này lại là vọng trong vọng, Nên những cái nhận thức những cái hình bóng cất chứa trong cái vọng tâm này lại càng hư vọng hơn nữa. Và đó là lý do vì sao chúng ta cần phải làm cho 2 cái hệ thống này ngưng hoạt động thì chúng ta mới về được Pháp Giới Nhất Chân. Nhưng trước khi làm ngưng được cái hệ thống do mê mất chân tâm, thì chúng ta cần phải làm ngưng được cái hệ thống do chạy theo vọng tâm trước vì nó dễ dàng hơn. Vậy là bước thứ 2 mà chúng ta cần phải làm là phải lần ra được các thành phần còn lại tham gia vào cái hệ thống do chạy theo vọng tâm này từ 2 cái mấu chốt chính yếu mà ta đã xác định được ở bước 1.

Để giúp quý vị dễ hình dung hơn khi đi vào chi tiết. chúng tôi sẽ đối chiếu một số các thành phần này sang một số chức năng của máy tính. Như khi chúng ta bật nút khởi động trên cái máy tính thì cái chương trình hệ điều hành trong máy tính hoạt động nó sẽ mốc những dữ liệu trong ổ cứng thành những hình ảnh trên màn hình và khởi động các thiết bị nhập như bàn phím, con chuột, micro phone và đợi chúng ta tương tác tiếp, và khi chúng ta bấm một nút gì đó trên màn hình thì nó gửi thông tin gì đó xuống Bộ xử lý để xử lý tại đây nó cho ra một kết quả gì đó rồi cho nó hiện ra màn hình, và đa số nó sẽ lưu kết quả này xuống bộ nhớ để đợi những yêu cầu tiếp theo nhằm có những xử lý thông minh hơn cho những tương tác tiếp theo.

Như vậy khi ta bấm nút khởi động chính là mắt xích Hành có nghĩa là hành động. Khi chương trình hoạt động Bộ Vi Xử Lý sẽ đảm nhận 6 mắt xích: thứ nhất là tải chương trình phần mềm lên tức là mắt xích Thức, thứ 2 là nó sẽ mốc dữ liệu lưu trong ổ cứng lên theo sự điều khiển của chương trình phần mềm, sau đó cho hiện dữ liệu ra màn hình đây là mắt xích Vô Biểu Sắc và màn hình là Bộ Phận Xuất và thứ 3 là nó đợi tín hiệu tại các thiết bị nhập đây là Bộ Phận Nhập là mắt xích lục nhập, thứ 4 là nó sẽ xử lý tín hiệu mà người dùng vừa được nhập đây là mắt xích Xúc, thứ 5 là cho ra dữ liệu mới đây là mắt xích Thọ, thứ 6 là lưu dữ liệu mới xuống bộ nhớ đây là mắt xích Thủ. Còn Bộ Phận Lưu Trữ có tác dụng lưu trữ là mắt xích Hữu nó lưu trữ cả 2 phần là phần dữ liệu và phần chương trình. Như vậy máy tính đã đảm nhiệm 7 mắt xích, Còn 3 mắt xích còn lại là của con người. Như vậy ta thấy từ thời Đức Phật ngài đã nghĩ ra được hết các bộ phận chính yếu của một chiếc máy tính, như vậy 10 cái nhân duyên rõ ràng là mô tả một hệ thống đầy đủ, một guồng mấy cực kỳ vi tế.

Nhìn vào mô hình Von Neumann ta sẽ thấy rất rõ, đây là mô hình do nhà toán học Mỹ John Von Neumann, được thiết kế ra vào năm 1946

Hệ thống lại kiến thức ta thấy bất kỳ một dạng vật chất nào cũng gồm 3 phần, một là phần lưu trữ hay gọi là nghiệp tướng, 2 là phần chuyển tướng, 3 là phần hiện tướng giống như phần cứng của máy tính cũng gồm có 3 phần 1 là ổ cứng, 2 là bộ vi xử lý, và 3 là các thiết bị nhập và xuất. Đối với một cơ thể sống thì nó gồm 2 phần, 1 là phần thể xác, 2 là phần linh hồn. Giống như một chiếc máy tính cũng gồm 2 phần là phần cứng và phần mềm, phần cứng gồm 3 phần như ở trên đã nói, còn phần mềm cũng gồm 3 phần là phần mã hóa nhị phân liên kết với Phần ổ cứng, 2 là chương trình phần mềm liên kết với bộ vi xử lý, 3 là phần dữ liệu liên kết với thiết bị nhập và xuất. Cũng giống vậy ta có linh hồn cũng gồm 3 phần, phần vọng tâm gần giống với phần nghiệp tướng, phần ý thức gần giống với phần chuyển tướng cái này là do sự mê chấp đạo lý mà có, phần hình bóng, cảm thọ gần giống với phần thể tướng hay hiện tướng phần này là do phần Si Ái mà có.

Như vậy ta thấy chương trình phần mềm là một dạng hổ trợ thây cho phần Ý Thức, phần tư duy logic do Sự Mê Chấp Đạo Lý của chúng sanh tạo ra. Còn phần dữ liệu là một dạng hổ trợ, lưu trữ thây cho phần sắc tướng, phần hình bóng, phần cảm thọ do phần Si Ái chấp trì. Chiếc máy tính tuy nó không có 2 phần Si Ái và Mê chấp nhưng nó đã hỗ trợ được con người 2 phần này. Nhờ vậy mà chiếc máy tính trở thành dụng cụ hổ trợ rất nhiều cho loài người. Vậy quy trình hoạt động của 10 cái mắt xích này ở trong tâm thức của ta có giống quy trình hoạt động của máy tính hay không?

Bây giờ chúng ta thử xét trường hợp đi học chẳng hạn khi chúng ta quyết định đi học có nghĩa là chúng ta quyết định nâng cao kiến thức của mình, chính là nâng cao cái nhận thức cái Phần Đạo Lý trong cái vọng tâm của mình. Vì cái vọng tâm là một thứ hư giả nên khởi điểm của nó là thứ trống rỗng không có gì, còn chân tâm thì ngược lại bên trong nó vốn đã tự đầy đủ, như cái máy tính vốn đã được loài người cài sẵn các chương trình phần mềm vào trong đó, vậy các chương trình các đạo lý được cài sẵn trong chân tâm là do ai cài theo các truyền thống tôn giáo lớn trên thế giới cho rằng đó là Thượng Đế cài, nhưng vì ma vương  và trong đó cũng có chúng ta đã không biết được rằng mình là chủ nhân của các đạo lý này nên không biết cách tận dụng được các đạo lý này mà còn càng ngày càng mê chấp, càng tham ái khiến cho thế giới của chúng ta càng ngày càng tồi tệ hơn rồi dẫn đến tranh dành chém giết lần nhau. Nhưng ở thế giới Tây Phương Cực Lạc chúng sanh ngày ngày đều được giáo hóa những chân lý này nên ai cũng hiểu rõ, cũng biết vận dụng và từ từ buông xã những thứ đó khiến cảnh giới càng ngày càng nâng cao. Ngoài ra ai ai cũng được hưởng phước báu vô cùng tận của Đức Phật A Di Đà không bao giờ có chuyện bị thiếu thốn, vô cùng sung sướng nên không có gây ra những tham lam, giành dựt do sự thiếu thốn như ta thường thấy ở thế gian này. Như vậy cái kiến thức, cái nhận thức chính xác là vô cùng quan trọng chỉ cần chúng ta thâu nhận những kiến thức lệch lạc sai lầm sẽ dẫn tới những hành động ngu suẩn cho đến những hành động vô cùng nguy hiểm, tác hại nghiêm trọng cho mình và cho thế giới. Nhà Phật nói những cái thấy cái nghĩ sai lầm này là kiến tư phiền não, kiến là những cái hình bóng, sắc tướng, cảm thọ được cất giữ trong vọng tâm, tư là những tư duy, suy nghĩ của ý thức là những hoạt động được phát khởi từ vọng tâm, 2 thứ này đều xuất phát từ vọng tâm nhưng chúng ta không thấy rõ được điều đó nên Phật còn gọi nó là vô minh là không có sự sáng suốt rõ ràng, như việc thấy rằng cái hư không, thế giới này là những thứ chân thật trong khi nó là hư giả, là huyễn hóa đây là một cái thấy biết sai lầm khiến ta bị dính mắc và chạy theo những thứ trong đó rồi hành động tạo tác để có được những thứ hư giả đó, Nhưng nếu chúng ta biết đó là những thứ hư giả thì chúng ta chẳng dại dột gì mà tốn thời gian công sức để theo đuổi những thứ hư giả đó. Như vậy ta có Vô Minh duyên cho hành. Còn hành duyên cho thức cũng giống như chiếc máy tính tải chương trình phần mềm vào bộ vi xử lý vậy. Thức ở đây là những kiến thức những nhận thức những tư duy logic của chúng ta. Như khi chúng ta lái xe máy đến trường đây chính là hành động được thúc đẩy bởi một sự ham muốn nâng cao kiến thức chẳng hạn, đây là một dạng của sự mê chấp đạo lý. Khi ta lái xe tuy mọi thứ đều tự động chạy nhưng nếu chúng ta không biết rịn ga, không biết đạp thắng, không biết phải quẹo con đường nào để đến trường học thì bạn làm sao đến trường được. Những cái kiến thức này chính là thức. Khi những cái kiến thức này được tải lên bộ não thì nó sẽ hoạt động ra sao. Có phải cũng giống như chiếc máy tính đó là nó sẽ truy cập dữ liệu trong ổ cứng và cho hiện ra trên màn hình. Như vậy cái dữ liệu mà kiến thức lái xe máy của ta tải lên là gì, đó chính là những cái hình bóng cho ta thấy được cái đạp ga hay cái nút đề ga là như thế nào, cái đạp số nằm ở đâu hay là xe tay ga là thế nào, cái nút xin quẹo trái, quẹo phải là ra sao, cái đoạn đường này phải đi bao nhiêu nữa mới quẹo trái hay quẹo phải v.v… Những cái hình dung hiện ra trong đầu này ta gọi là vô biểu sắc. Vậy ta có thức duyên cho Vô Biểu Sắc. Và để biết cái xe bên ngoài thực sự là như thế nào để ta biết mà điều khiển nó, thì các giác quan của ta phải mở ra như mắt phải nhìn cái nút quẹo trái phải nằm ở đâu, cái chân phải thử xem ở dưới có cái đạp ga hay có cần đạp số không, con mắt phải nhìn đoạn đường có chướng ngại gì không…Khi giác quan này mở ra để cho các thông tin từ bên ngoài đi vào não bộ tại đây nó sẽ được đối chiếu với những cái vô biểu sắc được kiến thức tải lên bộ não. Việc để cho những tín hiệu từ bên ngoài đi vào thông qua 6 giác quan này ta gọi là lục nhập, và việc đối chiếu 2 thông tin này tại não bộ ta gọi là xúc, vì sao gọi là xúc, xúc ở đây là tiếp xúc , tại sao lại dùng chữ tiếp xúc mà không dùng từ khác ví dụ như ta muốn phân biệt được 2 người nào đó ai cao hơn ai, ta phải đem 2 người đó tới gần nhau thì lúc đó ta mới có thể so sánh, đối chiếu được, sự tiếp xúc chính là sự hòa hợp mà sinh khởi ra biến hóa như vậy ta có Vô Biểu Sắc duyên cho Lục Nhập, Lục Nhập duyên cho Xúc và khi 2 thông tin được đối chiếu nó sẽ cho ra những hình dung chính xác hơn về chiếc xe, đây là xe tay ga hay xe số, nút quẹo trái nằm bên trái hay bên phải, đây là xe đạp ga hay phải đề ga v.v.. và cái hiểu biết mới này là nhờ ta hình dung ra được sự khác biệt, sự liên hệ giữa cái mới và cái cũ và nó cũng là một dạng của sự cảm thọ. Nếu như bạn không hình dung ra được sự khác biệt một cách chính xác và rõ ràng thì làm sao bạn điều khiển được chiếc xe. Từ đây ta có Xúc duyên cho Thọ. Và những cảm thọ mới này thường sẽ khiến cho bạn hứng thú, như mọi người ai cũng khoái những thứ mới lạ nên phải thường xuyên đổi món ăn, hoặc không ai xem một bộ phim nào đó tới 2 hoặc 3 lần. Vậy là ta có Thọ duyên Ái. Ái này chính là Si Ái. Khi bạn có sự thích thú rồi thì những thứ này sẽ để lại những ấn tượng rất sâu trong tâm bạn. Và những thứ nào mà bạn thích thì bạn sẽ thường xuyên khơi gợi những đối tượng này lên ở trong tâm, cái này ta gọi là Thủ, khi đó những đối tượng này sẽ tồn tại rất lâu trong tâm thức của bạn. Việc này cũng giống như việc ta đi học, sau khi học về ta phải ôn lại bài, luyện tập nó nhiều lần là để nó tồn tại lâu hơn trong tâm thức của ta. ta gọi cái này là hữu. Vậy là ta có Ái duyên thủ, thủ duyên hữu. Hữu là nơi lưu trữ những kiến thức, những thứ đối tượng, những thông tin mà ta ấn tượng mà ta thích thú. Và tùy vào những kiến thức mà ta lưu trữ nó khiến ta trở thành người thông minh hay người ngu dốt, người có trí tuệ hay người hồ đồ, Và tùy vào những đối tượng nào mà ấn tượng sâu trong tâm bạn thì ta biết bạn thích cái gì, bạn thích con trai hay con gái, bạn là người có cá tính thế nào v.v..Những điều này sẽ quyết định cách hành xử, cách hành động ở tương lai của bạn, chẳng hạn nếu bạn thích con gái thì tương lai bạn sẽ đi cưới vợ, nếu bạn trâu dồi kiến thức tin học thì tương lại bạn sẽ làm cái nghề công nghệ thông tin. Mà những kiến thức nào không giúp bạn nhận ra được bản chất sự thật rằng cái vọng tâm của bạn đều là hư vọng thì Phật đều gọi nó là Vô Minh đều là do mê chấp mà ra và nó là căn nguyên thúc đẩy bạn hành động và cứ như vậy vòng tuần hoàn này sẽ lặp đi lặp lại không bao giờ dứt. Như tại sao bạn lại chọn học kiến thức về Toán Học mà không phải là Hóa Học, đó là vì bạn mê chấp cái đạo lý của toán học nên bạn đã chọn nó, mà kiến thức này chỉ giúp bạn kiếm được một cái nghề nào đó có thể nhiều tiền hơn những nghề khác nhưng nó chẳng giúp bạn giải thoát ra khỏi được cái hệ thống tinh vi mà bạn đang mắt kẹt. Chỉ có pháp duyên khởi này mới giúp bạn dừng cái hệ thống này lại mà thôi.

Từ 2 loại tham ái này mà ta thấy trong xã hội cũng hình thành nên 2 loại người khác nhau, hạng người nào mà mê chấp đạo lý nhiều thì rất dễ trở thành các học giả các nhà khoa học, bác học nhà triết học v.v.. còn hạng thứ 2 là những hạng người nhiều tham ái thích ăn chơi, hưởng thụ như các nhà doanh nghiệp, nhà văn nhà thơ, nhạc sỹ, họa sỹ v.v.. 2 loại tham ái này đều là những thứ chướng ngại cho sự buông xả, là cái mấu chốt khiến cho cái hệ thống thứ 2 này không ngừng vận hành. Nên Phật còn dùng 2 danh từ khác để đặt cho 2 loại tham ái này đó là phiền não chướng và sở tri chướng. Những người có nhiều Sở tri chướng là những người mê chấp đạo lý nhiều, còn người nào có nhiều phiền não chướng là những người Si Ái nhiều, thích ăn chơi, thích hưởng thụ.

Và 2 loại tham ái cũng có sự thây đổi theo tuổi tác ở mỗi người, như lúc còn nhỏ thì thích ăn chơi, hưởng thụ nhiều hơn, nhưng khi lớn lên chúng ta bắt đầu ý thức được nhiều hơn, và bắt đầu biết lý luận, biết tư duy logic hơn. Khi về già thì dục vọng giảm dần để chuẩn bị cho cái chết, được ra đi nhẹ nhàng hơn, nếu về già mà ta vẫn không ý thức được về cái chết, về điều gì sau khi chết thì ta là một con người vô trách nhiệm đối với chính bản thân mình, không cần biết nó như thế nào, nó đi về đâu, đối với bản thân mình mà con như vậy thì làm sao có thể giúp ích được cho ai.

Nhờ biết được 10 cái mắt xích này sẽ giúp cho ta biết được mức độ quan trọng của từng mắt xích trong việc giúp cho ta dừng cái hệ thống tinh vi này lại, từ đó mà có mức độ quan tâm một cách chính xác và thích đáng cho 10 cái mắt xích này.

10 cái mắt xích này đóng một vai trò quan trọng trong một guồng máy được tạo ra bởi loại pháp giới duyên khởi này. Một khi có một cái mắt xích nào trục trặc hoặc trì trệ sẽ khiến cho cả hệ thống bị ảnh hưởng theo. Và ngược lại, nếu một cái mắt xích nào đó được kích động nó sẽ kéo theo 9 mắt xích còn lại cùng hoạt động theo. Chỉ cần bỏ xót một mắt xích nào cũng là một thiếu xót ảnh hưởng rất lớn trong việc điều phục được cái guồng máy này. Nên việc xác định đầy đủ chính xác 10 mắt xích này là vô cùng quan trọng trong việc giúp ta kìm hãm lại được cái guồng máy nhân duyên hòa hợp đang không ngừng hoạt động này. Nếu không y theo kinh điển của Phật thì làm sao ai đó có thể nghĩ ra được 10 mắt xích này. Tuy nó hoạt động ngay trong tâm thức mình ngay trong tất cả mọi sự vật hiện tượng đang diễn ra trước mắt mình nhưng tới giờ mình vẫn chưa thấy một sách vở nào nói rõ về 10 cái mắt xích này cả, ngay cả những vị Thầy những vị tổ trong Phật Môn mình cũng chưa thấy ai giảng như vậy, chỉ có Thiền Sư Thích Nhất Hạnh là có cải tổ lại một ít cho nó chính xác hơn để nó thực sự đúng với tầm giá trị của nó.

Vậy điều gì khiến cho mọi người khó nhận ra được 10 mắt xích chính yếu này chỉ có thể là do cái tốc độ diễn ra quá nhanh, nhanh hơn tốc độ xử lý của chiếc máy tính không biết bao nhiêu mà kể, do đó mà không có ai ở 7 loại pháp giới trong 10 thứ pháp giới duyên khởi có thể biết được, phải từ pháp giới duyên khởi thứ 8 là các bậc Duyên Giác trở lên mới đủ khả năng để thấy được nó.

Mà nếu không xác định được 10 mắt xích này thì việc dừng cái guồng máy cực kỳ vi tế này lại là chuyện không tưởng. Ngày xưa con người còn tin vào nhân quả, thật thà, vâng lời, dễ bảo nói sao thì họ làm vậy, một mặc cũng vì hồi xưa quá gian nan cực khổ đã rèn luyện được ý chí chịu đựng của con người, ngoài ra cũng vì ngũ dục lục trần thời xưa cũng ít nên con người cũng dễ dàng chịu đựng được. Nếu ngày nay chúng ta chỉ nêu ra giới luật và những lời đe dọa làm cho mọi người e sợ nhằm khiến cho họ ráng mà giữ cho được, thì e rằng 10 giới cũng sẽ không giữ được. Giới luật mục đích chính yếu là gì đó là giúp ta biết điểm phải dừng cái cổ máy đang hoạt động này lại không cho nó chạy tiếp nữa. Giống như cái xe đang chạy khi gặp cái vạch thì ta biết chổ mà đạp thắng lại. Nhưng nếu không biết cách khiến cho cái xe ngưng hoạt động thì ta sẽ phải đạp thắng dài dài tới một lúc nào đó cũng sẽ buông xuôi mà thôi. Vì như ta thấy ở trên những kiến thức thế gian hay những Tham Ái là một hệ quả của cái hệ thống này nếu ta không biết cách bắt nó dừng lại thì càng ngày những Tham Ái này, những cái kiến thức mê lầm này sẽ càng phát triển, như một cái xe đang lao xuống dốc vậy tốc độ càng lúc càng lớn tới một lúc nào đó thì cái thắng cũng không còn tác dụng được nữa. Từ đó ta mới thấy là việc tìm ra được 10 cái mắt xích này rất là quan trọng giúp ta có thể dừng cái guồng máy này lại dễ dàng hơn, và chỉ khi cái guồng máy này dừng lại thì lúc đó ta mới có thể tìm lại được sự bình an trong tâm hồn, sống được một cách trọn vẹn trong giây phút hiện tại, khi đó thì ta mới có thể nói tới chuyện thiền định được.

Việc dừng lại được cái guồng máy này sẽ giúp ta được được bình an, tĩnh lặng, nhưng cái vọng tâm của ta thì vẫn còn, nên còn phải tu tập thiền định phải đắc được quả vị A la hán thì khi đó mới có thể loại bỏ được cái vọng tâm này, khi đó mới có thể thoát ly khỏi sanh tử ra được khỏi lục đạo luân hồi. Nhưng việc tu thiền định trong thời đại ngày nay rất là khó khăn nên Phật đã mở ra một pháp môn mới đó là pháp môn Tịnh Độ chỉ cần chúng ta giữ được tâm thanh tịnh, sự yên ổn và phát khởi được một lòng tha thiết cầu Vãng Sanh Cực Lạc thì tất cả đều được giải thoát.

Như vậy ta thấy khi nào đắc được quả vị a la hán thì cái vọng tâm mới bị tiêu trừ, còn chết không phải là hết mà chỉ có thể xác tan rã thôi, còn cái vọng tâm thì vẫn còn, Và chính cái vọng tâm này sẽ thúc đẩy ta đi đầu thai. Mà cái vọng tâm này là gì đó là những thứ hình bóng của những đối tượng mà ta thích, mà ta đã hưởng thụ, những thứ như kiến thức, nhận thức mà ta đã trâu dồi, học hỏi trong lúc còn sống…. Mà nơi lưu trữ những thứ này là gì đó là mắt xích hữu, là cái thành phần này. Nếu như chúng ta không còn ham muốn bất kỳ những đối tượng nào, không còn thích hưởng thụ điều gì nữa, cũng như không còn mê chấp bất cứ những thứ đạo lý, kiến thức thế gian nào nữa thì chúng ta sẽ không còn lưu giữ bất cứ điều gì vào trong cái hữu này, Nếu cái hữu còn chứa chấp một thứ gì đó bên trong có nghĩa là chúng ta còn ham muốn nó, còn mê chấp nó, mà muốn được như vậy thì chỉ có một cách là chúng ta phải đi đầu thai nếu không muốn đầu thai vào lục đạo luân hồi thì chỉ có một cách duy nhất là phải cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Từ đó ta thấy hữu mới là nguyên nhân chính thúc đẩy cái thần thức này đi tìm một thể xác mới. Như vậy ta có Hữu duyên cho sinh. Và một khi đã sinh ra rồi thì phải chịu lão tử như vậy ta có Sinh duyên cho lão tử. Như vậy, cái mắt xích Hữu này lúc không còn cái thân thì nó sẽ duyên thêm một thứ nữa đó là mắt xích Sinh. Và khi có thân này rồi thì vòng tuần hoàn của 10 mắt xích này lại tiếp tục quay nhưng không phải quay tròn mà quay theo hình xoắn ốc càng ngày càng lớn dần cho tới khi mất. Nhìn vào hình minh họa ta sẽ dễ hình dung hơn.

Như vậy bây giờ ta đã có đầy đủ 12 mắt xích, mà trong kinh Phật gọi là Thập Nhị Nhân Duyên được xem là đầy đủ nhất từ lúc Đức Phật bắt đầu giảng kinh thuyết pháp đến lúc Phật nhập Niết Bàn. Và từ cái sơ đồ thập nhị nhân duyên này mà ta có thể lý giải và triển khai ra được hầu hết các pháp mà Đức Phật đã đề cập đến trong các kinh điển của Phật Giáo Nền Tảng như Tam Vô Lậu Học, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần, Thất Giác Chi, Ngũ Uẩn.

Và không những vậy như mình thấy thì cái thập nhị nhân duyên này cũng có thể mô tả cho hiện tượng nhân duyên hòa hợp của cả vật chất nữa. Điều này sẽ giúp ta có được hình dung chính xác hơn nữa về chức năng của từng mắt xích. Và bài chia sẽ lần sau mình sẽ nói kỹ hơn về các chức năng này. Xin chào tất cả mọi người.DU Nam mô A Di Đà Phật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *