Pháp môn đặc biệt của 10 phương chư Phật – Phần 3

Khi bạn khởi lên một niệm mê thì bạn sẽ quên đi cái Tự Tánh này. Khi đã bị mê rồi thì càng lúc càng sâu và dần dần trở thành một kẻ lang thang cùng tử lúc nào không biết, như hiện tại bây giờ lúc nào chúng ta cũng bận rộn lo lắng về miếng cơm, manh áo cảm thấy nó như là một điều không thể tránh khỏi của cuộc sống nên ít ai mà tin rằng có một thế giới Cực Lạc con người không cần làm mà vẫn có ăn thậm chí không cần ăn mà vẫn tồn tại nên ở đó rất yên bình không như ở đây nhiều khi vì miếng ăn mà chúng ta bất chấp luân thường đạo lý làm hại đến những chúng sanh khác,mà bạn không biết rằng bạn là do Tự Tánh biến hiện ra những chúng sanh khác cũng là từ Tự Tánh biến hiện ra nếu bạn hại những chúng sanh khác là bạn đang tác động tiêu cực vào Tự Tánh của chính mình. Nếu điều bạn muốn không tác hại đến chúng sanh nào nghĩa là không có tác động tiêu cực vào Tự Tánh của mình thì Tự Tánh của bạn cũng sẽ không gây ra điều gì tai hại cho bạn, và ngược lại nếu điều bạn muốn có lại gây ra tác hại gì đó đến chúng sanh khác có nghĩa là bạn đã có một tác động tiêu cực vào Tự Tánh của mình thì không sớm thì muộn bạn cũng sẽ nhận lại được tác động đó từ Tự Tánh của mình đó là nhân quả báo ứng tơ hào không sai, dù bạn có năng lực phi thường đến đâu cũng không thể so bì được với công năng biến hóa của Tự Tánh, dù bạn trốn ở chân trời gốc bể nào cũng không thoát khỏi nó nên nhà Phật có câu “Vạn pháp giai không, nhân quả bất không”.

HT Tịnh Không có nói: Thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là do tánh khởi mà sanh ra hiện tượng, nên ở đó con người thừa hưởng được năng lực của Tự Tánh trong 1 niệm có thể hiện thân khắp mười phương thế giới, tuổi thọ của họ bằng với tuổi thọ của Tự Tánh là vô lượng vô biên. Còn ở thế giới Ta Bà này do mê chấp vào cái đạo lý , mê chấp vào cái bản ngã nên mới có nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra mọi sự vật hiện tượng rồi phải chịu những quy luật biến hóa của nó, phải chịu sự thành, trụ, hoại, không-sanh, trụ, dị, diệt – sanh, lão, bệnh, tử. Muốn ở Ta Bà không bị luân hồi thì chỉ có những người minh tâm kiến tánh mới làm được chuyện đó. Nhưng vì chúng sanh mê muội không biết rằng “phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng“, cái bản ngã biết suy nghĩ, nói năng này sự thật cũng chỉ là giả ngã không phải chân ngã, mấy ai nhận ra điều đó. Cái Tự Tánh vốn không có hình tướng thì lại là cái chân thật. Mấy ai có thể hiểu được. Ngay cả Einstein cũng không tránh khỏi những ngộ nhận sai lầm. Nên nhiều người dày công tu hành nhưng cũng chỉ là làm chuyện trong mộng không ra khỏi được luân hồi, cái thấy cái hiểu đã sai lầm thì càng tu càng sai lệch, leo càng cao thì té càng đâu. Nhưng có một điểm đặc biệt là Tự Tánh vốn không phân biệt một ai dù bạn ở cõi uế độ nào đi nữa dù bạn ngu dốt hay thông mình, già yếu hay khỏe mạnh, còn nhỏ hay đã lớn nếu bạn muốn điều gì thì đều sẽ được Tự Tánh đáp ứng lại. Nếu điều bạn muốn không tác hại đến Tự Tánh thì tương lai Tự Tánh cũng không gây tác hại gì đến bạn và ngược lại nếu điều bạn muốn có gây tác hại đến Tự Tánh thì tương lai bạn sẽ nhận lại y chang như vậy. Biết được nguyên lý này nên Đức Phật A Di Đà mới kiến lập nên thế giới Tây Phương Cực Lạc thật trang nghiêm tốt đẹp để phát khởi lên lòng ham muốn của chúng sanh ở 10 phương thế giới. Lòng ham muốn này không gây tác hại đến một ai nên chỉ cần bạn Tin chân thành, Nguyện thiết tha thì Tự Tánh của bạn sẽ đáp ứng lại cho bạn mà không cần một yêu cầu đòi hỏi nào và không có những phản hồi tiêu cực nào. Chỉ cần bạn một lòng một dạ nhất hướng mong cầu không chạy theo những cám dỗ trần tục ở trên thế gian này nữa thì sự vãng sanh của bạn nắm chắc phần trong tay. Còn chuyện muốn ở cõi Ta Bà này tu tập giới, định, tuệ nếu không đạt tới minh tâm kiến tánh thì bạn sanh tử như thế nào thì vẫn phải sanh tử như thế đó, không thể ra khỏi luân hồi được.

Nên pháp môn Tịnh Độ còn gọi là pháp môn hoành siêu tam giới, hoành nghĩa là ngang. giống như con sâu trong ống tre nếu muốn ra khỏi ống tre nó sẽ có 2 đường một đường là theo chiều dọc của ống tre có nghĩa là nó phải đục qua hết các mắt bên trong ống rồi mới ra ngoài được, nhưng cũng có một cách nữa là nó đục ngang ống tre là đục qua cái thành của ống tre mà nó đang tại đó. Cũng giống như vậy nếu tu những pháp môn khác người tu phải tu thập thiện nghiệp vượt lên cõi trời, rồi tu thiền định để lên cõi trời sắc giới, rồi phải tu tứ niệm xứ quán khổ, không , vô thường, vô ngã để vượt qua khỏi cõi trời vô sắc giới, rồi buông xã bản ngã, ngã chấp mới tới quả vị A La Hán, rồi buông xã tập khí của chấp trước mới tới được quả vị duyên giác, muốn vượt qua quả vị duyên giác phải buông bỏ phân biệt là sự mê chấp về đạo lý gọi là pháp chấp, rồi tiếp tục buông bỏ tập khí phân biệt thì ra khỏi 10 pháp giới. Tới đây thì không còn buông xã điều gì nữa nhưng phải trải qua 3 đại A tăng kỳ kiếp mới có thể chứng được quả vị Phật cứu cánh viên mãn.

Còn tu pháp môn tịnh độ bạn chỉ cần thây đổi những ham muốn trần tục đầy khổ lụy của thế gian này thành nguyện lực cầu sanh sang thế giới Tây Phương Cực Lạc cũng là thoát ra khỏi được lục đạo luân hồi của thế giới Ta Bà này . Nhưng khi sống ở thế gian này con người thường không có được những điều mình muốn, nên thường không ai tin rằng khi bạn muốn điều gì thì Tự Tánh sẽ đáp ứng lại cho bạn điều đó. Và khi nghe chư Tổ, Đại Đức nói rằng “vãng sanh được hay không là ở nơi có Tín, Nguyện hay không” bạn cũng vẫn không thể tin được. Nhưng nếu bạn để ý tới câu này “bạn vốn từ Tự Tánh biến hiện ra và bạn không nằm ngoài Tự Tánh, không hai đối với Tự Tánh. Nên Bạn muốn điều gì thì sẽ được điều đó vì bạn vốn là Tự Tánh mà. Nếu bạn mê chấp đạo lý thì nó hiện không gian, thời gian ra cho bạn” Ngay cả hư không, vũ trụ này Tự Tánh còn phải tạo ra cho bạn huống chi là những ước nguyện khác. Điều này chỉ có Phật và các vị Pháp Thân Đại Sỹ mới biết được còn lại đều không thể dễ dàng tin vào điều đó. Nhưng tại sao thực tế chúng ta lại thấy chẳng mấy ai có được điều mình muốn? Nếu bạn để ý tiếp câu này: “Nếu điều bạn muốn không gây tác hại đến chúng sanh nào nghĩa là không có tác động tiêu cực vào Tự Tánh của mình thì Tự Tánh của bạn cũng sẽ không gây ra điều gì tai hại cho bạn, và ngược lại nếu điều bạn muốn có lại gây ra tác hại gì đó đến chúng sanh khác có nghĩa là bạn đã có một tác động tiêu cực vào Tự Tánh của mình thì không sớm thì muộn bạn cũng sẽ nhận lại được tác động đó từ Tự Tánh của mình” xin bạn hãy quan sát trong cuộc sống có phải đa số con người ta vì tham, sân, si mà bất chấp luân thường đạo lý đã gây phương hại đến không biết bao nhiêu chúng sanh, đến khi quả báo trổ ra thì lại than trời trách đất sao cuộc đời không như mình mong muốn. Dần dần bạn đã quên mất sức mạnh của lòng mong muốn lớn mạnh tới mức nào.

BẢN CHẤT CỦA LÒNG HAM MUỐN HAY SỰ THAM ÁI

Ta thấy có 3 căn nguyên sinh ra mắt xích Ái: 1) ham muốn cái mới, ai cũng thích những thứ mới lạ (mê chấp đạo lý mới thành lỗi lầm từ đó sanh ra Si Ái, Si Ái sanh trưởng khắp nơi, nên có tánh hư không, sư mê chấp tiến hóa không ngừng, nên sanh ra thế giới), 2) là ham muốn hiện thực một mong ước gì đó( nhất là ham tìm một cái thân vật chất khác khi đã mất). 3) là nhờ các đối tượng bên ngoài làm kích thích các giác quan gây sự chú tâm mà sinh ra tham ái (đặc biệt là kích thích ý thức phân biệt như một người có ngoại hình hay khuông mặt có đường nét rõ ràng, cân đối bao giờ cũng để nhiều ấn tượng hơn người khác). Tham ái là một nguồn động lực thúc đẩy khiến ta hành động, khiến ta nắm giữ , khi thấy được bộ mặt thật của nó (quán vô dục) sẽ khiến sức mạnh của nó bị giảm thiểu rất nhiều giúp ta tránh phải tạo nghiệp và giúp ta buông xả được chấp trước. Nhưng sự quán chiếu không phải lúc nào cũng thực hiện được nên tốt nhất người tu hành vẫn phải hạn chế tiếp xúc với bên ngoài

3 cửa ngõ đi vào ngôi nhà Phật Pháp không, vô tướng, vô tác

Không: Nghĩa là thấy vạn sự vạn vật là không thật, là hư huyễn. Tất cả các pháp đều là do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra, tùy vào duyên khác nhau mà sinh ra những hiện tượng khác nhau, mọi hiện tượng đều biến hóa thây đổi liên tục không ngừng, không có một thứ gì là bất biến, trường tồn và chân thật cả. Nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn bào ảnh. Như lúc nằm mộng ta thấy ta rất giàu có và có được nhiều thứ ta muốn nhưng khi thức dạy mới biết nó là mộng nên chẳng nhớ nghĩ gì tới nó nữa. Nên việc quán huyễn sẽ giúp ta dễ dàng buông xã hơn. Nếu quán huyễn chưa buông xã được thì ta tiếp tục quán Vô Tướng.

Vô Tướng: Khi quan sát máy chiếu ta thấy không có màn hình trắng thì không có hình ảnh, nó cũng cần phải hội đủ nhân duyên thời tiết mới hiện ra được, như vậy hình ảnh là giả tướng , hoặc khi nhìn vào chiếc bàn ta thấy nó là dụng cụ để làm việc, nhưng với con mọt thì nó là thức ăn, nếu dùng kính hiển vi để nhìn thì ta thấy nó là môi trường sống của những loài vi khuẩn, hoặc sâu hơn nữa là tập hợp các tế bào hữu cơ v.v.. Và nhìn tới tận cùng ta thấy nó là những trường năng lượng rung động vô cùng nhanh sinh ra các lực và các hạt. Như vậy cái tướng cái bàn hiện ra trên võng mạt của con mắt ta cũng là duyên sanh. Tùy duyên khác nhau mà nó hiện ra với hình tướng khác nhau. Vì vậy mà mọi hình tướng mà ta thấy cũng không có cái nào là chân thật. Vì vậy, người khôn sẽ không chạy theo những hình tướng giả dối này. Nếu quán vô tướng mà vẫn chưa buông bỏ được thì ta sẽ qua cánh cửa thứ 3 là quán Vô Tác.

Vô Tác: ngày nay con người khổ không phải vì thiếu thốn vật chất mà khổ vì càng lúc họ càng không kiểm soát được tâm trí của mình. Nhìn kỹ ta sẽ thấy, những hình bóng khởi lên trong tâm ta là do ta tạo ra và nắm giữ lấy chúng, không ai nhét vào tâm của ai được. Nên Phật Bồ Tát các ngài cũng không tu dùm cho ai được.Bản chất những gì ta chấp chặt trong tâm đều là những hình bóng hư huyễn, không cứng chắc hay sắc nhọn thì làm sao khiến ta có thể đau được, nên nguyên nhân duy nhất khiến ta đâu khổ là do chính ta bị dính mắt và mắt kẹt vào một hình tướng nào đó, chính điều đó khiến ta không thể dừng lại được và đã lao theo nắm bắt những hình bóng đó, càng nắm bắt càng theo đuổi là ta càng đẩy mình ra xa khỏi trạng thái cân bằng và thư thả, chính trạng thái mất cân bằng và chấp chặt này sẽ lưu trữ một năng lượng rất lớn làm tâm trí ta giao động, nặng nề và u ám. Đó mới là nguyên nhân khiến ta khó chịu, càng khó chịu thì ta càng tìm đến những thứ nào có sức lôi kéo khiến tâm trí ta tập trung vào chúng để ta tạm thời quên đi những khó chịu đó, nhưng năng lượng chấp trước đó vẫn còn y nguyên. Nên việc tìm kiếm một thứ kích thích bên ngoài giống như một thứ thuốc phiện, thuốc giảm đâu không giải phóng được gì cho ta mà còn khiến ta bị nghiện và bị phụ thuộc vào nó nhiều hơn. Và nó làm cho tâm trí ta càng thêm khoáy động làm tâm ta không thể định lại được khi tâm ta không định lại được thì ta sẽ không thể nhận diện được những chấp trước mà ta đã vướng phải, mà như thế ta sẽ càng không loại bỏ được chúng. Và nếu tâm trí ta có sự chấp chặt, sự liên kết chặt chẽ với một đối tượng nào đó thì khi liên kết này bị phá vở nó sẽ phóng thích ra một năng lượng rất lớn có thể phá hủy từ thể xác đến tinh thần của ta. Tới đây mà bạn vẫn không buông xã được thì hết ngõ.

LỢI ÍCH THẬT SỰ CỦA PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

Tuy bạn đã cắt đứt nhiều sự tiếp xúc bên ngoài nhưng những tập khí tham ái vi tế vẫn khởi lên, bạn nên kết hợp với sự quán chiếu, như Quán Không sẽ giúp bạn giảm bớt tâm phân biệt khi tiếp xúc với những đối tượng tham ái bên ngoài hoặc quán Vô Tướng để không bị mắt kẹt hay dính mắt vào một hình tướng nào đó trong tâm, đây là hai cách quán chiếu triệt để nhất nhưng quán điều này tâm phải định rất sâu nên cũng không phải dễ, chỉ có quán Vô Tác là dễ chuyển hóa hơn vì nó có sự liên hệ trực tiếp tới hành động, tạo tác khiến chúng ta dừng lại mọi hành động trước khi tạo nghiệp. Sự quán chiếu này sẽ hổ trợ rất lớn trong việc giữ giới, nhưng sự quán chiếu không thể thực hiện liên tục được. Muốn được 24/24 chúng ta phải biết thực hành chánh niệm mọi lúc mọi nơi khi đi đứng nằm ngồi mặt áo ăn cơm, đây không phải là việc dễ dàng mà là một công việc khô khan và phải để ý nhiều điều làm cho ta rất khó kiểm soát. Nếu không phải người chịu kham nhẫn cao thì khó mà giữ được. Vì vậy mà pháp môn Tịnh Độ ra đời, nhờ niềm tin vào một thế giới Tây Phương Cực Lạc tốt đẹp đã phát sinh một niềm khao khát muốn vãng sinh về đó, nhờ đó mà nó trở thành một động lực mạnh mẽ giúp chúng ta dễ dàng giữ được chánh niệm MỘT CÂU A DI ĐÀ PHẬT NIỆM TỚI CÙNG 24/24 mà vẫn không có cảm giác khô khan, tẻ nhạt và nhờ chú tâm về một hướng giúp ta dễ dàng kiểm soát hơn rất nhiều. Khi giữ được chánh niệm lâu ngày thì tâm Từ, Bi, Hỷ , Xả và Trí Tuệ của ta cũng tự nhiên từ từ tăng trưởng. Ngược lại, vô minh và những tham ái thế gian càng ngày càng giảm bớt sẽ giúp Tín, Nguyện của hành giả về Tây Phương Cực Lạc càng nhiều hơn. Một muỗi tên mà trúng 2 đích vừa giúp chúng sanh tu hành được dễ dàng hơn trong lúc tại thế gian này lại vừa giúp chúng sanh được vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *