Khoa học và triết học hiện đại trong quán không và quán vô tướng – Phần 2

Ngày nay khoa học đã bắt đầu áp dụng được một số hiệu ứng của cơ học lượng tử vào đời sống con người. Mọi nhu cầu dục vọng của con người càng lúc càng được đáp ứng một cách dễ dàng hơn, có tiền gần như là có tất cả nên khiến con người càng ngày càng nhanh sa đọa hơn. Ngược lại, nếu ai biết vận dụng những hiệu ứng lượng tử này để làm sáng tỏ những tri kiến của Đức Phật thì nó lại có thể giúp chúng ta dừng lại được trước những ham muốn trần tục trong thế gian đầy cám dỗ này.

Loại thứ nhất của hiệu ứng lượng tử đó là lượng tử hóa các đại lượng vật lý nhất định. Là trong thế giới thông thường mà giác quan chúng ta nắm bắt được thì mọi giá trị đo lường mà ta khảo sát đều là có một sự biến thiên liên tục như khi lái xe ta không thể tăng tốc từ vận tốc 20 đến 100 liền mà phải biến đổi từ từ là từ 20,30…90..rồi tới 100. Còn trong thế giới vi mô lại khác có những giá trị khảo sát mà nó đột ngột nhảy vọt không có các giá trị nằm ở giữa. Điều này giúp các nhà khoa học tạo ra được các thiết bị điều khiển như transistor chỉ với một biến thiên điện thế rất nhỏ có thể khiến dòng điện qua transistor từ 0 có thể tăng lên đột ngột, việc thông tin thây đổi đột ngột như vậy giúp việc tính toán trở nên cực kỳ nhanh lẹ và chính xác. Đây là một công nghệ đột phá của máy vi tính. Trong kinh Phật ngài cũng đã có nhắc đến hiện tượng này: “Trong tâm phàm phu khởi ý niệm, trong một niệm này có mấy niệm? Như vậy mới biết, ý niệm này rất thô. Trong ý niệm này, có bao nhiêu ý niệm vi tế? Có mấy tướng, có mấy thức?Và Bồ Tát Di Lặc trả lời trong 1s có khoảng 1600 ngàn tỷ niệm vi tế. Đây là một loại tướng tương tợ tiếp nối, không thể nói là tương tục. Tương tục thì niệm trước phải giống với niệm sau, đó là tương tợ, nó không giống nhau, niệm trước không phải là niệm sau, niệm sau cũng không phải là niệm trước, mà là tướng tương tợ tiếp nối” (HT Tịnh Không). Như ta thấy trong thế giới thông thường như cái xe ta đang chạy lúc trước khi tăng tốc và sau khi tăng tốc vẫn là chiếc xe đó. Nhưng trong thế giới vi mô thì lại khác mọi thứ đều là biến hiện cái sau không phải là cái trước, cái trước không phải là cái sau nên sinh ra hiện tượng rời rạc hay gián đoạn nên khi khảo sát vào thế giới vi mô các nhà khoa học đã đặt nó cái tên là cơ học lượng tử. lượng trong nghĩa số lượng là một khoảng nào đó, tử là nhỏ bé. Xuất hiện cái hiện tượng gián đoạn, rời rạc này thực chất là do sự biến hiện mà ra cái trước biến mất và cái sau liền sinh ra với một giá trị khác với cái trước chỉ có lý do này mới có thể giải thích được sự thây đổi đột ngột của các đơn vị khảo sát trong cơ học lượng tử, cái khoảng hở biến rồi hiện này rất là nhỏ cở khoảng 1600 ngàn tỷ lần/s nên gọi là lượng tử. như trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có viết “Các tướng huyễn hóa, chính ngay nơi chỗ nó sanh ra, tùy ở đó mà diệt tận, tánh của nó thật là Diệu Giác Minh Thể“. Ngay chỗ sanh ra, cái chỗ đó là không, không có thứ gì, từ trong không nó liền sanh ra có, tuy là sanh ra có liền lập tức quay về lại với không (HT Tịnh Không). Cái khoảng biến hiện hay cái khoảng bị gián đoạn này vô cùng nhỏ bé mà con người khó mà cảm nhận được nên gọi là lượng tử, và vì không nhận ra được nó nên ta thấy mọi sự vật hiện tượng dường như rất là chắc thật mà không thấy được sự huyễn hóa của nó. Điều này đã đưa ta đến một ý niệm quan trọng của Phật giáo trong bài kệ sau của Kinh Kim Cang “Tất cả pháp hữu vi như mộng, huyễn, bào, ảnh. Như sương cũng như chớp, hãy quán chiếu như thế”. Để dễ hiểu HT Tịnh Không dùng cái ví dụ về cuộn phim nhựa, tấm phim trước và tấm phim sau hoàn toàn khác nhau, nhưng khi chỉ cần quay với tốc độ 24 hình/s là đã đánh lừa được con mắt của người xem, người xem cảm nhận rằng cái đối tượng đang chuyển động này lúc trước và sau đó vẫn là một người, từ đó mà bị lôi cuốn vào trong nhân vật này.Nên khi quan sát được tất cả pháp như mộng huyễn bọt ảnh sẽ giúp chúng ta dễ dàng buông xã hơn rất nhiều.

Một hiệu ứng nữa là nguyên lý bất định : ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác. Với công thức khá nổi tiếng là {\displaystyle (\Delta \ x)(\Delta \ P_{x})\geq \ {\frac {h}{4\pi \ }}} . Hay nói dễ hiểu hơn là khi nghiên cứu sâu vào thế giới vi mô các nhà khoa học nhận thấy rằng các hạt không phải cứng chắc, hay ổn định như mọi người nghĩ mà nó luôn biến hoá và sóng động với tốc độ biến hóa rất lớn, nhưng vì nó quá nhỏ nên mắt thường chúng ta không thể nhìn ra nó. Và ngược lại ở những vật thể lớn ta rất dễ dàng nhận thấy, nhận biết nhưng ngược lại sự sóng động, sự biến hóa của nó rất là nhỏ tới mức chúng ta không thể cảm nhận được. Giả sử ta có hòn đá nặng 100 g, và giữ nó không cho nó cựa cậy quá giới hạn 1 micrômét. Theo công thức của nguyên lý bất định thì hòn đá sẽ cựa cậy với vận tốc là 10^-25 cm/s — một vận tốc quá nhỏ để ta có thể cảm thấy được. Như vậy cái biến hóa, chuyển biến này luôn có mặt trong mọi sự vật hiện tượng mà nhà Phật gọi nó là Thức hay gọi là chuyển tướng điều này thể hiện khá rõ tại câu Kinh này: “Trong tâm phàm phu khởi ý niệm, trong một niệm này có mấy niệm? Như vậy mới biết, ý niệm này rất thô. Trong ý niệm này, có bao nhiêu ý niệm vi tế? Có mấy tướng, có mấy thức?“niệm niệm thành hình, hình đều có thức (thức nghĩa sự kết hợp chuyển biến)”. Đối chiếu với tam tế tướng ta thấy “Thức” tương đương với phần chuyển tướng đó là khả năng kết hợp và chuyển biến những sóng động mà nó tiếp nhận. Vì tốc độ chuyển biến rất nhanh 1600 ngàn tỷ lần trên giây, phàm phu khó mà cảm nhận được sự sóng động này nên sinh ra những hình bóng về một đối tượng nào đó nó chính là phần “hình” là phần Hiện Tướng trong tam tế tướng. Chẳng hạn như sóng nước, khi quan sát những ngọn sóng này ta cảm giác như có những cơn sóng đang di chuyển từ điểm này đến điểm kia trong không gian nhưng thực chất là không có ngọn sóng nào đang di chuyển cả mà chỉ là sự dao động của một điểm nào đó trên bề mặt của mặt nước nghĩa là nó có thây đổi theo thời gian. Nghĩa là nhìn sơ qua ta tưởng nó di chuyển như tính chất của hạt như dạng vật thể, nhưng thực chất nó là do sự chuyển biến, sự thây đổi biên độ của một điểm trên bề mặt của mặt nước. Và khi gặp một ngọn sóng thứ 2 truyền tới thì xảy ra hiện tượng giao thoa “Sự giao thoa của các sóng trên thực chất tuân theo nguyên lý chồng chập sóng mà ở đây chính là sự cộng gộp của các dao động. Tại mỗi điểm trong không gian nơi có sự gặp nhau của các sóng, dao động của môi trường sẽ chính là dao động tổng hợp của các dao động thành phần từ các sóng tới riêng biệt, mà nói theo ngôn ngữ của vật lý sóng sẽ là tổng của các véctơ sóng. Nhờ sự tổng cộng dao động này mà trong không gian có thể tạo ra các điểm có dao động được tăng cường (khi các sóng thành phần đồng pha) hoặc bị dập tắt (khi các sóng thành phần có pha ngược nhau) tùy thuộc vào tương quan pha giữa các sóng”. Từ hiện tượng này ta có thể kết luận rằng khi xảy ra hiện tượng giao thoa thì chứng tỏ có sự lan truyền dưới dạng sóng. Nghĩa là có sự kết hợp, sự hòa nhập vào nhau sinh ra sự chuyển biến là tăng cường hoặc tiêu trừ lẫn nhau

Thí nghiệm khe Young, được thực hiện lần đầu bởi Thomas Young vào khoảng năm 1805, là một thí nghiệm quang học chiếu ánh sáng qua hai khe hẹp và quan sát vân giao thoa trên màn ảnh nằm sau. Các vân giao thoa cho thấy ánh sáng lan truyền như các sóng, để dễ hiểu ta ví dụ sóng mặt nước chẳng hạn khi quan sát những ngọn sóng này ta cảm giác như nó đang di chuyển từ điểm này đến điểm kia nhưng thực chất là không có ngọn sóng nào đang di chuyển cả mà chỉ là sự thây đổi biên độ của ngọn sóng đó theo thời gian mà thôi (theo định nghĩa của Phật Giáo thì “sự thây đổi trạng thái tại một điểm nào đó theo thời gian được gọi là thức”) đây là nguyên nhân chính sinh ra hiện tượng giao thoa, và ngược lại khi xuất hiện hiện tượng giao thoa ta có thể khẳng định sự di chuyển của nó thực chất là sự lan truyền như dạng sóng. Do đó thí nghiệm này đã chứng tỏ tính chất sóng của ánh sáng, củng cố lý thuyết sóng ánh sáng Huygens. Thí nghiệm khe Young cũng có thể được thực hiện với các chùm electron hay nguyên tử để cho thấy lưỡng tính sóng hạt của chúng. Điều này chứng tỏ sự di chuyển của các hạt vật chất cũng giống như sự lan truyền của sóng vậy, với phương trình sóng Schrödinger . phuong-trinh-song Thí nghiệm này đã chứng tỏ tính chất sóng của những đối tượng mà ta tưởng là hạt như là các hạt electron cũng không phải hoàn toàn là hạt. Và như trong lý thuyết dây họ có nói rằng “Các dây này có thể rung động trong những mode khác nhau ( tương tự như một dây ghi-ta có thể sinh ra các note nhạc khác nhau),với mỗi mode xuất hiện như một hạt ( electron, photon…)”. Giống như sóng nước vậy tùy vào biên độ và tần số của sóng nước mà ta có được những ngọn sóng di chuyển nhanh hay chậm, cao hay thấp. Như vậy cái hình dáng và tốc độ của một ngọn sóng lại tùy thuộc vào biên độ và tần số của con sóng đó. Cái biên độ và tần số là thông số đại diện cho sự biến hóa theo thời gian của một điểm nào đó trên mặt nước, sự biến hóa và thây đổi theo thời gian này gần giống với phần chuyển tướng là phần “thức”, còn cái ngọn sóng có hình dáng cao hay thấp đang di chuyển trong không gian là đặc tính của hạt là nguyên nhân tạo ra một aỏ tưởng về vật chất. Mà sự di chuyển của một ngọn sóng từ chổ này đến chổ kia là một ngộ nhận thực chất không có ngọn sóng nào đang di chuyển cả. Như trong kinh Vô Lượng Thọ Phật có nói rằng “Đức Như Lai kia, đến không chỗ đến, đi không chỗ đi, không sanh không diệt, không có quá hiện vị lai, chỉ có một nguyện độ sanh”. Cũng như câu nói “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Nghĩa là cái ý nghĩ rằng có tồn tại một ngọn sóng đang di chuyển trong không gian là do ta tưởng lầm như vậy chứ sự thật là không hề có cái nào như vậy hay có thể nói rằng nó là hư vọng. Như nền khoa học cổ điển họ đã có ngộ nhận về sự tồn tại những hạt cơ bản, cứng chắc, ổn định, tồn tại độc lập và có thể di chuyển trong không gian. Nhưng thực tế các nhà khoa học của nền khoa học cận đại đã khám phá ra rằng các hạt lan truyền như là sóng vậy nghĩa là không có đối tượng nào di chuyển trong không gian cả và “Sâu vào bên trong các hạt phân tử, còn có những thứ khác. Thứ khác này nhảy nhót trong các sợi năng lượng. Nó trông như một sợi dây dao động đó là nơi bắt nguồn của lý thuyết dây”. Như vậy ta thấy mỗi một hạt vi trần đều có sự sóng động và chuyển biến ở bên trong hay có thể nói rằng nó có sự sống ở bên trong, nó có nhận biết, nó như một cơ thể sống vậy”. Điều này đã dẫn ta tới một khái niệm rất thú vị đó là khái niệm về tinh thần và vật chất , thức là đại diện cho phần tinh thần , còn phần hạt hay phần “hình tướng” là là căn nguyên sinh ra ý niệm về vật chất. Từ đây, ta sẽ hiểu được tại sao Đức Phật nói rằng “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến, tất cả pháp đều từ tâm tưởng sanh”. Sở hiện ở đây chính là khởi tâm động niệm, “Thức” là sự kết hợp dẫn tới sự chuyển biến. Vì chuyển biến quá nhanh mà sinh ra hình bóng sự ngộ nhận này gọi là tưởng, sự tưởng lầm này gọi là ngã chấp có đối tượng này, có đối tượng kia, có ta có người. Những khái niệm đối tượng này đối tượng kia chỉ là những ảo giác là tưởng lầm mà ra nhưng vì không biết điều đó nó cứ tưởng thật có những đối tượng như vậy từ đó sinh ra sự chấp trước và bảo tồn những ý niệm này theo đó đặc tính kết hợp và chuyển biến càng chậm chạp dần thây vào đó là đặc tính bảo tồn và va chạm thể hiện càng lúc càng rõ hơn. Như chất rắn thì chắc chắn chấp ngã của nó sẽ mạnh hơn chất lỏng, và chất lỏng thì nặng hơn chất khí, chất khí thì nặng hơn âm thanh và âm thanh thì nặng hơn ánh sánh. Và như vậy vật chất là một khái niệm trừu tượng do chính phần tinh thần mê mất chân tâm, bản tánh của mình để rồi nhận lầm về sự tồn tại của một đối tượng nào đó rồi theo đó mà dần dần đánh mất đi đặc tính kết hợp và chuyến biến của mình, đó là nguyên nhân tại sao các vật thể càng lớn càng cứng chắc thì tính chất hạt thể hiện càng rõ tính chất sóng càng mờ nhạt. Tuỳ vào mức độ chấp trước, tuỳ vào sự ngộ nhận như thế nào mà sinh ra các loại hình thái, thể trạng khác nhau như ánh sáng, âm thanh, chất khí, chất lỏng, chẩt rắn. Với giác quan thông thường của loài người họ không thể nhận ra được điều đó vì thế mà hầu hết ai cũng nghĩ rằng nguyên tố căn bản của vạn sự vạn vật trong vũ trụ này là từ những hạt cơ bản cứng chắc kết hợp thành, từ cái ngộ nhận này đã khiến con người đi ngược lại với chân tướng sự thật thây vì con người ngày nay chú trọng vào việc chuyển hóa phần tinh thần họ lại tập trung vào việc cải tạo vật chất, nghiên cứu vật chất. Nghiên cứu tới cuối cùng thì các nhà lượng tử lực học mới vỡ lẽ ra rằng vật chất không hề có tồn tại, họ nói rằng vật chất là do phần tinh thần ngộ nhận mà thôi. Giống như trong xã hội loài người đoàn thể nào bị ảnh hưởng bởi tư tưởng vật chất càng nặng thì hình thức giải quyết vấn đề thường là bằng chiến tranh, đấu tranh gây ra sự tan thương mất mát ngược lại nếu đoàn thể nào ít bị ảnh hưởng bởi khái niệm vật chất thì họ có khả năng hoà nhập sống chan hoà với nhau, tuỳ vào mức độ chấp trước của ngã chấp khác nhau mà hình thành các hình thái xã hội các đoàn thể, các quốc gia, các ngành nghề khác nhau. Như ở thế giới Tây Phương Cực Lạc chỉ có một nghề duy nhất là giáo dục, chỉ có một quốc gia duy nhất, không có thủ tướng, vua, chúa mà chỉ có một vị giáo chủ duy nhất là Đức PhậtADi Đà. Có sự khác biệt này là do chúng sanh ở Tây Phương Cực Lạc không còntưởng lầm về cái thân này nữa họ không còn thấy ta và người, không còn thấy đối tượng này đối tượng kia nhờ vậy mà mọi thứ đều có thể hoà hợp chan hoà với nhau thành một thể. vật chất ở Thế Giới Tây Phương Cực Lạc cũng có thể biến hoá theo ý niệm của chúng sanh “Nước ấy thuận ý của mỗi chúng sanh…. Sóng vang ra vô lượng âm thanh vi diệu, nghe tiếng Phật, Pháp, Tăng hoặc tiếng ba la mật… tiếng cam lộ quán đảnh nhận lãnh địa vị… Ðược nghe các âm thanh như thế xong, tâm thanh tịnh không có các phân biệt, chánh chơn, bình đẳng, thành tựu thiện căn. Nghe được pháp nào cũng tương ứng với pháp. Muốn nghe pháp nào tai liền nghe thấy. Pháp chẳng muốn nghe, trọn chẳng nghe thấy, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển tâm a nậu đa la tam miệu tam Bồ Ðề”. Nước là vật chất vô tình, sao lại có được vô lượng diệu dụng đến thế, tùy nghi thích ứng căn cơ: muốn nghe liền được nghe. Nước lại có đầy đủ công đức chẳng thể nghĩ bàn như vầy: khiến cho người nghe trọn chẳng bị thoái chuyển! Rõ ràng là nhất chơn pháp giới: một hạt bụi, một mảy lông không thứ nào chẳng viên minh cụ đức, một thứ là chơn thì hết thảy thứ là chơn. Một mảy trần, một sợi lông không thứ nào chẳng là viên viên quả hải. Theo Hiển Mật Viên Thông, viên viên quả hải chính là biển thánh giác quả đức vô thượng viên mãn. Chúng sanh thế gian và khí thế gian đều thanh tịnh. Hữu tình, vô tình đều cùng thành Phật nên bảo: ‘Hết thảy đều thành Phật’. Một câu nói này bóc trần tâm tủy của Tam Tạng và mười hai bộ kinh, mở toang huyền chỉ của một ngàn bảy trăm công án trong nhà Thiền, bộc lộ thẳng thừng mật ý đại viên thắng huệ, đại viên mãn của Mật tông. Câu này chính là một pháp cú, chính là thanh tịnh cú, cũng có thể gọi theo nhà Thiền là mạt hậu cú (câu sau cùng hết).
Còn vật chất ở thế giới Ta Bà này không có công năng diệu dụng như vậy, mọi thứ đều bị nghiệp lực chi phối. Nó không thể tự biến hoá theo ý muốn của chúng sanh mỗi hạt vi trần đều có cái ngã của nó nếu bạn phóng ra những ý niệm tốt đẹp thì nó đáp trả lại cho bạn những hình hảnh tốt đẹp ngược lại nếu bạn phóng ra những ý niệm của tham thì nó sẽ đáp trả lại cho bạn hiện tượng lũ lụt, nếu là sân nó sẽ đáp trả lại cho bạn hiện tượng nhiệt độ tăng cao, núi lửa phun trào nếu là si nó sẽ tạo ra gió bảo, nếu là kiêu mạn nó sẽ tạo ra động đất, nếu là nghi ngờ nó sẽ tạo ra sạt lỡ, lún sụt. Nên cách duy nhất bảo vệ môi trường sống của mình là hãy vun trồng những ý niệm thiện lành tốt đẹp ngoài ra không còn cách nào khác. Hiện tượng này ngày nay đã được nhà khoa học Giang Bổn Thắng ở Nhật Bản chứng minh bằng hàng ngàn thí nghiệm về nước rằng nó có khả năng hiểu được ý niệm của con người. Nước mỹ có tiến sĩ Hew Len. Người bản địa vùng hawaii, dùng phương pháp ý niệm để trị bệnh. Ông học được cách làm đó nên giúp trị bệnh cho người trên toàn thế giới, trị khỏi đến vài ngàn người. Ông đến hồng kông thăm tôi. Tôi hỏi ông, “việc dùng ý niệm trị bệnh, là ông căn cứ trên đạo lý nào”. Ông dựa vào tâm thanh tịnh, thế thì đúng rồi. cũng tức là tâm thanh tịnh trong kinh vô lượng thọ. Ông cần duy trì tâm thanh tịnh, xa lìa mọi vọng tưởng tạp niệm, ông ko có những cái đó, trong mọi thời luôn giữ cho mình cái tâm thanh tịnh. Đó ko phải phật pháp. Vì thế, so với phật pháp, nó còn kém hơn 1 bậc. Ông dùng tâm thanh tịnh để giúp người khác trị bệnh. Phương pháp trị liệu. Ông nói, ông chỉ cần 4 dữ liệu. Thứ nhất là danh tính người bệnh. Thứ 2 là ngày tháng năm sinh. Thứ 3 là nơi ở hiện tại. Vì vậy không cần phải gặp mặt người bệnh. Ông ở hồng kông, người bệnh ở mỹ. Ông ở hồng kông vẫn có thể trị bệnh cho họ. Thật sự có thể trị khỏi. Sau cùng là hồ sơ bệnh án. họ đến bệnh viện kiểm tra. những chỗ nào có vấn đề, đó là bệnh lý. Ông chỉ cần 4 yếu tố này. Phương pháp trị bệnh là quán tưởng. Một mình ông ở trong 1 căn phòng nhỏ, nửa tiếng đồng hồ, làm quán tưởng, đem người bệnh cùng với chính mình quán tưởng thành 1 thể. ta chính là họ, họ chính là ta. Quán tưởng thành 1 thể. Hiện nay, trên thân ta. Những nơi nào bất ổn, có bệnh. Đầu tiên là sám hối. Ông có 4 câu kệ. Tức là niệm 4 câu này. Câu đầu tiên là <xin lỗi>. xin lỗi ai vậy?. xin lỗi đến những tế bào mang bệnh trên người ta. tôi ko cẩn thận khiến bạn mắc bệnh rồi. tôi xin lỗi bạn, hãy tha thứ cho tôi. loại ý niệm này, trong tâm thanh tịnh không có tạp niệm. Tế bào liền có thể hợp tác cùng ông. tế bào mang bệnh sẽ chịu hợp tác. sau đó nói <cảm ơn bạn>. 1 câu cuối cùng là <tôi yêu bạn>. Chính là 4 câu như thế. xin lỗi, xin tha thứ cho tôi. cảm ơn bạn, và tôi yêu bạn. 12 chữ. chỉ cần niệm 12 chữ này. niệm nửa tiếng đồng hồ. Mỗi ngày niệm nửa tiếng.1 tháng, tức là 30 ngày. bệnh sẽ khỏi. Bệnh trên người ông khỏi rồi. thì bệnh của đối phương, người cách đó cả mấy ngàn dặm. cũng đều khỏe lại. tôi nghe rồi rất hoan hỷ. tôi bảo mọi người đều nên chăm chỉ học theo ông. Vì sao, nếu có đại thảm họa., bệnh tật, bệnh truyền nhiễm sẽ rất nhiều. ko còn bệnh viện, ko có bác sĩ. thì phải làm sao? Dùng cách này là được. phương pháp này không cần đến y dược. cũng không cần tiêm chích. vả lại, vô cùng an toàn. ý niệm này. Tiến sĩ hew len nói với tôi. mọi hiện tượng bên ngoài kia đều biết hết. ông nói với tôi. cái bàn biết, cáighế biết. trần nhà biết, sàn nhà biết. mà bức tường cũng biết. hoa cỏ cây cốingoài kia thảy đều biết. chúng ta khởi tâm động niệm chúng đều biết tất cả. bạn có thể giấu được ai chứ. việc này thông qua thực nghiệm khoa học. tiếnsĩ hew len, mấy năm gần đây. ông có lẽ cũng gần 70 tuổi tồi. ông trị bệnhcho người khắp nơi trên thế giới. giảng giải nguyên lý trị bệnh này. đó kophải giả. hoàn toàn là thật, là sự thật (HT Tịnh Không) Và như vậy trong vạn sự vạn vật đều có phần Thức này. Nhưng tại sao ở loài người ý thức mới được hình thành và phát triển. Và như câu nói của triết học Mac-Lê Nin là “vật chất có trước ý thức có sau” phải chăng là đúng, nhưng có một điều chắc chắn rằng ý thức không phải do vật chất tạo ra mà ý thức là một năng lực của tâm thức kết hợp với sự tự vận hành của cơ thể mà tạo nên, nhà Phật gọi là nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra hiện tượng, do đó câu nói “vật chất quyết định ý thức” thì không được chính xác. Mà phải nói là nhờ khả năng tự vận hành của cơ thể giúp cơ thể chủ động tiếp xúc được mọi đối tượng mà nó muốn nhờ vậy mà phần Thức tăng trưởng một cách đột biến đặc biệt khi cơ thể trở nên linh động hơn như cơ thể con người thì ý thức cũng phát triển theo Đúng như với mắc xích “từ Hành duyên Thức” trong sơ đồ thập nhị nhân duyên.Và trong những năm gần đây các nhà lượng tử lực học khi nghiên cứu sâu vào thế giới vi mô họ đã nhận ra rằng vật chất thực không có tồn tại, như vậy ý thức của loài người đang mô phỏng những thứ không có thực. Vì vậy, nếu ta dựa vào ý thức để mô phỏng để hiểu được chân tướng, thật tướng của các pháp là điều không thể. Đó là lý do tại sao lúc 29 tuổi thái tử Tất Đạt Đa đã quyết định từ bỏ hết những kiến thức mà mình đã học được để đi sâu vào trong thiền định chính là để vượt qua khỏi cái tầng ý thức này, thâm nhập sâu vào bên trong “cho đến nhập vào cái Không Chỗ Nhập, thẳng thấu đến chỗ bổn nguyên, thì ngài thấy rằng Hết cả mười phương cõi, duy Tâm duy Thức mà thôi”. Giống như ngài Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói “xưa nay không một vật, chổ nào dính bụi nhơ”. Như trong kinh Vô Lượng Thọ có viết “Một mai khai ngộ, hiểu rõ, minh bạch, thấu triệt tướng tự nhiên của tự nhiên, tự nhiên tự có căn bổn, tự nhiên quang sắc nhập lẫn vào nhau, chuyển biến tối thắng. (tạm dịch: ‘Tự nhiên quang sắc xoay chuyển nhập lẫn vào nhau, chuyển biến tối thắng’): Tham là nhập vào, các ánh sáng chập vào nhau. Hồi là xoay chuyển, chuyển vần trọn khắp không ngừng, biến hóa không trở ngại vậy”. So sánh với lý thuyết dây ta thấy có những điểm tương đồng . Như các “sợi năng lượng” bên lý thuyết dây chính là từ “quang sắc” , và “các sợi này có thể kết hợp và chuyển biến”. Câu này cũng tương đương với câu kinh này “Tự nhiên quang sắc xoay chuyển nhập lẫn vào nhau, chuyển biến tối thắng”. Như vậy muốn khai ngộ, muốn thực chứng chân tướng thực tướng của các pháp con người phải biết buôn bỏ cái ý thức phân biệt này. Nhưng hiện nay đại đa số con người cứ nghĩ rằng vật chất tạo ra ý thức và khi cơ thể tan hoại thì ý thức cũng không còn. Điều này đã kéo theo nhiều hệ quả nghiêm trọng của xã hội. vì mọi người tưởng chết là hết nên cố gắng nổ lực phấn đấu tạo ra nhiều của cải vật chất để hưởng thụ cho hết trước khi xuống suối vàng, có khi vì muốn có được điều mình muốn họ sẵn sàng giết hại những chúng sanh khác mà không sợ báo thù, thặm chí giết người để bịt đầu mối vì họ nghĩ chết là hết. Mà như ta biết ý thức là một năng lực của tâm thức vốn không sanh không diệt, vật chất chỉ là một tướng hư huyễn như vậy việc nó tụ hay tán chỉ có tính ảnh hưởng đến những tâm thức còn bị vô minh che đậy chứ không có tính quyết định đến tính còn và mất của tâm thức, và vì còn bị vô minh che đây nên ý thức nó tưởng thế giới vật chất này là thật. Do vậy khi cơ thể này tan hoại ý thức này cần kiếm một cơ thể khác một là để tăng thêm sự hiểu biết về thế giới vật chất này hai là vì nó tưởng thế giới vật chất này là thật nên cần phải đi vào những cảnh giới để hiện thực những dục vọng mà nó đã tích lũy trước đó. Và những dục vọng này là từ đâu mà có đó chính là từ những thông tin mà nó cảm nhận về một đối tượng nào đó được lưu giữ trong tiềm thức của nó. Và những thông tin này ở dạng mô phỏng trong tiềm thức mà mô phỏng thì không có thực , chính điều này đã thôi thúc nó phải hành động phải hiện thực nó trong thế giới vật chất mà nó cho là có thực này. Nên trong vấn đề tu tập của hầu hết các tôn giáo họ đều hạn chế không để cho người sơ cơ tiếp xúc với nhiều thông tin bên ngoài, càng ít thông tin càng tốt. Nhưng trong thế giới ngày nay thì ngược lại, thời đại công nghệ thông tin đang bùng nổ, những thông tin như sát, đạo, dâm, vọng xuất hiện khắp mọi nơi, điều này đã khiến loài người ngày nay đã tạo ra bao nhiêu tội nghiệp, họ không thể kiểm soát được chính những hành động của mình vì họ cho rằng khi xem những thông tin giải trí này nó sẽ lưu vào trong ý thức của họ mà ý thức là cái vô hình không có thực thì sẽ không có tác hại gì nên họ cứ tha hồ đắm mình vào trong những thứ giải trí này để rồi đến một lúc nào đó thiếu tỉnh táo, những thứ thông tin được chấp chứa trong tâm sẽ xui khiến họ hành động để biến những thứ đó thành hiện thực. Nên ta thấy vì sao khi tu tập thiền định người ta phải giữ giới tinh nghiêm, vì một khi trong tâm họ chất chứa nhiều thông tin nó sẽ khiến con người phải hiện thực nó và phải hoạt động và như vậy bao giờ mới có thể đắc định, có thể khai trí huệ. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin như ngày nay việc hạn chế để người tu hành không tiếp xúc với nhiều thông tin là một điều khó khăn đặc biệt là những người tu hành tại gia. Do vậy chư Phật đã nghĩ ra một cách khác thây vì đi sâu vào thiền định vượt qua khỏi tầng ý thức này để có thể nhổ được tận gốc cái ý thức phân biệt này thì ta có thể trồng một thứ khác và ta chỉ trồng một thứ này thôi. Thứ này có thể tăng trưởng nhờ vậy nó mới đủ khả năng che phủ được hết những ý niệm mới đang ngày ngày được huân tập và tăng trưởng do bởi sự tiếp xúc hàng ngày của 6 căn với 6 trần. Sự che phủ này mới đủ để cho nó không thể khởi tác dụng thôi thúc chúng ta hiện thực nó. Và cái thứ khác này chính là niệm hồng danh của Chư Phật. Với pháp môn niệm Phật này khi đi đứng nằm ngồi mặt áo ăn cơm chúng ta đều có thể khởi lên câu niệm Phật được, và nhờ vậy dần dần vọng niệm sẽ bớt dần và câu danh hiệu Phật sẽ thành một khối. Điều này thì ai cũng làm được chỉ 3 năm là có thể làm được. Và khi đạt tới trình độ này là niệm Phật thành phiến hay thành khối, Phật A Di Đà sẽ hiện ra báo cho bạn biết thọ mạng của bạn là còn bao nhiêu và bạn muốn đi theo Phật lúc nào là tùy bạn. Hiệu ứng nguyên lý bất định cho ta hiểu được rằng tính sóng và hạt là 2 mặt đối nghịch nhau nghĩa là khi đi vào thế giới càng nhỏ thì tính chất sóng là sự chuyển biến, sự biến hóa sẽ càng nhanh như tốc độ của sóng nước không nhanh bằng tốc độ của sóng âm thanh và tốc độ của sóng âm thanh không nhanh bằng sóng điện từ hay sóng ánh sáng và tốc độ sóng ánh sáng không thể nhanh bằng sóng tư tưởng như HT Tịnh Không có nói “Thế nhưng ý niệm của chúng ta vừa khởi, cái sóng tư tưởng này lập tức biến khắp hư không pháp giới, không có tốc độ nào có thể so sánh kịp. Chư Phật dạy chúng ta, chúng ta khởi tâm động niệm, niệm một câu A Di Đà Phật thì ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, A Di Đà Phật lập tức liền nhận được tín hiệu này, chúng ta liền bắt tín hiệu được với Phật. Ngài nhận được tin tức rồi, Ngài cũng có hồi âm”. Và ngược lại, tính chất hạt như sự xác định một vùng không khí nào đó sẽ khó khăn hơn so với việc xác định một vùng chất lỏng nào đó và sự cố định của chất lỏng thì không thể ổn định bằng vị trí của các vật thể rắn. Như vậy tính chất hạt là đại diện cho khả năng có thể sở hữu và nắm bắt.

Tính chất sóng đại diện cho sự chuyển biến, càng nhỏ thì tốc độ chuyển biến càng tăng tốc độ lan truyền càng lớn thì chúng ta càng khó mà nắm bắt và giữ gìn được nó, như ánh sáng chẳng hạn chúng ta phải nhờ những công cụ máy móc hiện đại mới có thể nắm bắt được, và cho đến mức ý niệm thì hoàn toàn không có một máy móc nào có thể nắm bắt được. Và ta thấy khi nghiên cứu càng sâu vào thế giới vi mô con người càng phát hiện ra được những nguồn năng lượng càng lớn như dòng điện tuy nhỏ bé nhưng có thể điều khiển những cổ máy khổng lồ, và sâu hơn nữa là hạt nhân nguyên tử vô cùng nhỏ nhưng nó có thể phá hủy một thành phố trong tích tắc. Và bây giờ ngài Arbert Einxtanh đã phát hiện ra một thứ nhỏ hơn nữa đó chính là ý niệm tới mức này thì không máy móc nào có thể điều khiển được ngoại trừ chính tâm thức của loài người như trong kinh Phật có nói rằng ‘Trụ trong giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, Bồ Tát bứt lấy một tam thiên đại thiên thế giới như thợ đồ gốm [véo lấy một miếng đất sét], đặt trong bàn tay phải rồi ném khỏi hằng sa thế giới nhưng chúng sanh trong thế giới ấy chẳng biết, chẳng hay nơi mình đang trụ. Lại đem đặt trả về chỗ cũ, khiến cho chúng sanh đều chẳng có ý tưởng là [thế giới] bị đem đi hay trả lại, mà bổn tướng của thế giới này vẫn như cũ’ và: ‘Bồ Tát đem chúng sanh trong một cõi Phật đặt trong bàn tay phải, bay đến mười phương, hiện bày khắp hết thảy nhưng chẳng lay động bổn xứ’
. Đây chính là sức mạnh của ý niệm. Nhưng ý niệm không có kích thước nên theo nguyên lý bất định thì tần số tốc độ của nó không gì sánh bằng. Và như vậy năng lượng của nó cũng không thể tưởng tượng được. Đúng như Arbert Einxtanh có nói rằng “Có một loại Lực vô cùng mạnh mẽ, mà cho tới nay khoa học cũng không thể tìm ra lời giải đáp chính xác dành cho nó, Lực này bao gồm và chi phối tất cả những lực khác. Nó thậm chí còn đứng sau bất kỳ hiện tượng nào được vận hành bởi vũ trụ mà chúng ta vẫn chưa thể lí giải”. Và ai là người có được năng lực này chính là 10 phương chư Phật. Các ngài có thể kiến tạo ra được những cảnh giới theo ý muốn của mình. Và trong kinh Hoa Nghiêm Phật có nói rằng “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng Như lai, nhưng do vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng đắc”. Vọng tưởng là khởi tâm động niệm, phân biệt là phần thức là phần tinh thần, chấp trước là thế giới vật chất. Và như vậy muốn khai thác được sức mạnh này chúng ta phải đi sâu vào trong thiền định vượt qua khỏi thế giới vi mô, thế giới ý niệm vô hình và theo nguyên lý bất định thì nó sẽ hoàn toàn ngược lại với thế giới thông thường mà mắt thường chúng ta cảm nhận. Như trong thế giới thông thường chúng ta có thể sở hữu và nắm bắt thứ gì đó, thì ở đây sẽ ngược lại là “vô sở hữu, bất khả đắc”. Nhưng năng lực biến hóa của nó thì vô hạn, không gì không thể, không gì không biết trong kinh Phật gọi đây là trí tuệ Bát Nhã “Nhất thiết pháp, vô sở hữu, tất cánh không, bất khả đắc” (Hết thảy các pháp chẳng có sở hữu, rốt ráo không, chẳng thể nắm bắt được). Nhà Phật gọi cái thấy biết chơn thật này chỉ có ở pháp nhãn, huệ nhãn và Phật nhãn. Muốn mở được những con mắt này chúng ta phải tu tập giới, định, huệ ngoài ra không còn phương pháp nào khác. Tu hành trong Phật Giáo cũng như các tôn giáo lớn đều là tu thiền định là quay vào bên trong thâm nhập sâu vào bên trong cho đến nhập vào cái không chổ nhập. Phương pháp thì chỉ có vậy nhưng đi hướng nào chọn con đường nào để đi thì không phải chuyện đơn giản. Riêng Phật Giáo có 84000 pháp môn, nếu gộp cả những tôn giáo khác thì có vô lượng vô biên pháp môn. Đặc biệt trong thời đại ngũ trược ác thế này người tu hành gặp trùng trùng trở ngại bên trong thì có phiền não ma, ngũ ấm ma, tử ma bên ngoài thì bị ngũ dục lục trần mê hoặc bị ngoại ma, thiên ma quấy phá. Người tu hành như đứng giữa một mê hồn trận xung quanh tứ phía tầng tầng lớp lớp đủ các loại vật dục cám dỗ. Hành giả như bị lạc giữa rừng không thấy lối ra. Vì vậy, trong kinh Đại Tập Đức Phật có dạy: “Đời mạt pháp, trong số ức triệu người tu hành,chưa có được một người đắc đạo; duy chỉ có nương vào pháp môn niệm Phật mới được độ thoát ra khỏi sanh tử”. Pháp môn niệm Phật này tại sao có sự khác biệt như vậy. Cũng giống như ta bị lạc giữa rừng không tìm thấy lối nhưng nếu trong tay ta có một chiếc điện thoại và chúng ta biết được số của đội cứu trợ thì chỉ trong chốc lác với phương tiện máy móc hiện nay họ có thể định vị bạn một cách dễ dàng và với 1 chiếc trực thăng họ nhanh chóng đến được chổ của bạn mà không phải đợi quá lâu. Khi bạn khởi lên một câu danh hiệu Phật sóng tư tưởng này còn nhanh hơn sóng vô tuyến tức thời Phật A Di Đà liền nhận được và gia trì cho bạn khi nào công phu bạn thành khối nghĩa là Tín, Nguyện của bạn thật sự muốn cầu vãng sanh thì Phật A Di Đà liền hiện ra trước mặt bạn báo cho bạn biết thọ mạng của bạn là còn bao nhiêu và bạn muốn đi theo Phật lúc nào là tùy ở bạn.

Và một câu hỏi được đặt ra là cái gì khiến cho những thứ này tự giao động, và biến hóa như vậy, các khoa học gia ngày nay vẫn chưa có câu trả lời, nhưng nhờ vào hiệu ứng thứ 4 của cơ học lượng tử sẽ giúp ta xác định được cái đối tượng đầy bí ẩn này.Và Hiệu ứng thứ 4 của cơ học lượng tử đó là hiệu ứng vướng víu lượng tử. Hiệu ứng này không những cho ta thấy được một năng lực vô hạn tiềm ẩn nằm ở phía sau mọi sự vật hiện tượng mà hiệu ứng này cũng giúp chúng ta thấy được con dao 2 lưỡi của lòng ham muốn trong mỗi con người chúng ta. Vấn đề này đã được trình bày ở trang ”Sự tương tác kỳ lạ của những hạt photon”, Vui lòng nhấn tại đây để xem

Sóng Hạt
Tinh Thần Vật Chất
Thức Tướng (Hình)
Ý Thức Thể Xác
Thây đổi trạng thái theo thời gian Thây đổi vị trí trong không gian
Danh Sắc
Chuyển Tướng (Chuyển Thức) Hiện Tướng (Cảnh Giới Tướng)
Kiến Phần Tướng Phần
Sở Tri Chướng Phiền não chướng
có sanh, có diệt có đến, có đi
Phân Biệt Chấp Trước

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *